Mình mới tìm được lịch sử thui
Vào thế kỷ XVI, Thiên chúa giáo được truyền vào Việt Nam do các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và sau là Pháp.
Vào đầu Công nguyên, Jesus sáng lập một tôn giáo mới, thờ Chúa Trời (Thiên Chúa) gọi là đạo Thiên Chúa. Tín đồ đạo này tôn Jesus là đấng cứu thế nên đạo Thiên Chúa còn gọi là đạo Kitô hay đạo Cơ đốc. Năm 1054, đạo Thiên Chúa bị phân hóa thành hai nhánh: Công giáo thuộc Giáo hội La Mã dưới quyền của giáo hoàng ở Tòa thánh Vatican (Roma, Italia) và Chính thống giáo gồm nhiều giáo hội khác nhau. Đến thế kỷ XVI, Jean Calvin (người Pháp) và Martin Luther (người Đức) khởi xướng phong trào Cải cách tôn giáo ở châu Âu dẫn đến sự ra đời của đạo Tin Lành. Như vậy, Công giáo, Chính thống giáo, đạo Tin lành chinh là những nhánh của đạo Thiên Chúa giáo
Sự du nhập và phát triển của Công giáo ở Việt Nam
Vào thế kỷ XVI, Thiên chúa giáo được truyền vào Việt Nam do các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và sau là Pháp. Sự truyền đạo giai đoạn đầu ít gặp trở ngại do tính khoan dung của người Việt Nam và tính không đối dầu của tôn giáo bản địa, nhưng sự truyền đạo đạt kết quả không cao. Sau đó Pháp vận động Giáo Hoàng cho phép độc quyền truyền đạo tại Việt Nam. Hội truyền giáo Pa-ri được thành lập năm 1660 cùng nhà nước Pháp tuyển chọn, đào tạo giáo sĩ, cử sang hoạt động ở Việt Nam và một số nước khác.
Cuối thế kỷ XVIII, Giáo hội Công giáo Việt Nam đã có ba địa phận (Đàng trong, Đàng ngoài và Tây đàng ngoài) với khoảng 3 vạn giáo dân và 70 linh mục Việt Nam. Dưới triều Nguyễn, lúc đầu sự truyền giáo được nhà Nguyễn tạo nhiều điều kiện thuận lợi, nhưng sau đó thấy những hoạt động của giáo sĩ vừa truyền đạo vừa phục vụ cho âm mưu xâm lược của thực dân Pháp nên nhà Nguyễn đã cấm đạo nhất là từ khi thực dân Pháp bộc lộ rõ ý đồ thôn tính Việt Nam. Việc cấm đạo gay gắt tạo sự chia rẽ nhất định trong nhân dân.
Trong hơn 100 năm dưới chế độ thực dân, Thiên chúa giáo được dùng để duy trì sự thống trị của Pháp, đồng thời chèn ép các tôn giáo khác gây chia rẽ giữa các tín đồ tôn giáo khác nhau hoặc với người không có đạo. Giáo hội Công giáo được nhiều đặc quyền, đặc lợi, những tổ chức, giáo sĩ theo chúng được ưu đãi. Tuy thế , giáo hội Thiên Chúa giáo ở Việt Nam vẫn bị coi là giáo hội thuộc địa. Có thể thấy điều đó rất rõ sau gần 400 năm truyền đạo vào nước ta, mãi đến năm 1933 mới có một giáo sĩ Việt Nam được phong làm giám mục.
Sau 1975, với thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và những tác động của sự chuyển đổi của Công đồng Vaticăng II từ sau năm 1975, Giáo hội Thiên chúa giáoViệt Nam có nhiều sự biến đổi. Năm 1976, Giáo hoàng phong chức Hồng y đầu tiên cho một Giám mục Việt Nam. Năm 1980, các Giám mục trong cả nước đã họp hội nghị để thống nhất đường lối của giáo hội. Hội nghị đã thành lập Hội đồng giám mục Việt Nam và ra thư chung 1980 với phương châm "sống phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào".
Số tín đồ Công giáo nước ta hiện nay khoảng 5 triệu, hiện nay đang có cuộc sống ổn định theo chính sách tôn giáo của Đảng theo đúng phương châm "tốt đời, đẹp đạo", "kính Chúa yêu nước"