Tìm kiếm Hình ảnh Tin tức Gmail Drive Lịch Dịch Ảnh Khác »
Đăng nhập
Giải Đáp không được hỗ trợ trên trình duyệt của bạn: một số tính năng có thể hoạt động không chính xác. Để xem danh sách các trình duyệt được hỗ trợ, hãy nhấp vào đây.
Giải Đáp
các dân tộc nói ngôn ngữ Nam Đảo phân bố ở địa bàn chủ yếu nào ?
các dân tộc nói ngôn ngữ Nam Đảo phân bố ở địa bàn chủ yếu nào ?
Lưu ý #1 11:55:29 08-01-2011
các dân tộc nói ngôn ngữ Nam Đảo phân bố ở địa bàn chủ yếu nào ?
Câu trả lời (2)
Sắp xếp theo: Phiếu bình chọn | Thời gian
Đăng nhập hoặc Đăng ký ngay bây giờ để trả lời câu hỏi này
Tìm kiếm trên web của Google
Tìm kiếm hình ảnh của Google
Chọn video từ YouTube
Tìm kiếm
Nhập URL
Nhập tìm kiếm của bạn vào hộp để tìm các liên kết web.
Nhập tìm kiếm của bạn vào hộp để tìm các liên kết web.
Nhập tìm kiếm của bạn vào hộp để tìm các liên kết web.
Hộp tìm kiếm không thể để trống
Dán url vào hộp dưới đây:
Không thể tải trang web
Tìm kiếm trên YouTube
Thêm liên kết video
NGÔN NGỮ NAM ĐẢO:
Đây là một trong những họ ngôn ngữ lớn, phân bố ở quần đảo Inđônêxia, Philippin, bán đảo Malăcca, một số khu vực ở Đông Dương, Đài Loan, Châu Đại Dương và đảo Mađagaxca. Có khoảng 800 ngôn ngữ khác nhau thuộc họ Nam Đảo với gần 237 triệu người sử dụng. Có giả thuyết về quan hệ thân thuộc giữa Ngôn ngữ Nam Đảo với ngôn ngữ Nam Á hay ngôn ngữ Thái. Theo truyền thống, Ngôn ngữ Nam Đảo được phân thành 4 nhóm: nhóm ngôn ngữ Inđônêxia, nhóm ngôn ngữ Pôlynêdi (Polynésie), nhóm ngôn ngữ Mêlanêdi (Mélanésie), nhóm ngôn ngữ Micrônêdi (Micronésie). Gần đây có ý kiến phân Ngôn ngữ Nam Đảo thành các nhóm: nhóm ngôn ngữ Arajan, nhóm ngôn ngữ Tơxu (Tsou), nhóm ngôn ngữ Pavan (cả ba nhóm đều phân bố ở Đài Loan), nhóm Malai - Pôlynêdi (gồm tất cả các Ngôn ngữ Nam Đảo còn lại). Từ đầu thiên niên kỉ thứ hai, nhiều Ngôn ngữ Nam Đảo có chữ viết gốc Ấn Độ. Một số ngôn ngữ có chữ viết dạng chữ Arập. Ngày nay, hầu hết Ngôn ngữ Nam Đảo đều có chữ viết dựa trên hệ chữ cái Latinh.

Tại Việt Nam, các dân tộc thuộc Ngôn ngữ Nam Đảo gồm:

Dân tộc Gia Rai
Tên tự gọi: Gia Rai Tên gọi khác:Giơ Ray, Chơ Ray Nhóm địa phương: Chor, Hđrung (gồm cả Hbau và chor), Arap, Mthur, Tơbuân.

Dân tộc Chăm
Dân tộc Chăm còn có tên gọi khác là Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hroi… Tập trung ở Ninh Thuận và Bình Thuận. Ngoài ra ở một số nơi như An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Phú Yên, thành phố Hồ Chí Minh cũng có một phần dân cư là người Chăm.

Dân tộc Ê Đê
Tên gọi khác: Rađê, Đê, Kpa, A Dham, Krung, Ktul, Dlie Ruê, Blô, Epan, Mdhur, Bích. Cư trú: Tập trung ở tỉnh Đắc Lắc, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên.

Dân tộc Raglay
Tên gọi khác: Ra Glây, Hai, Noana, La Vang. Cư trú: Sống chủ yếu ở phía Nam tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận.

Dân tộc Chu ru
ên gọi khác : Cho Ru, Kru, Thượng. Ðịa bàn cư trú: Phần lớn ở Ðơn Dương ( Lâm Ðồng ), số ít ở Bình Thuận.
08/01/2011
Hoàng Anh
Ngữ hệ Nam Á hay hệ ngôn ngữ Nam Á là một tổng hợp bao gồm khoảng 168 ngôn ngữ (theo Ethnologue) tại miền nam của châu Á, tập trung tại Đông Nam Á và rải rác tại Ấn Độ cùng Bangladesh. Ngôn ngữ có nhiều người dùng nhất trong hệ thống này là tiếng Việt, với gần 77 triệu người, sau đó là tiếng Khmer, với khoảng 7 triệu người. Trong số các ngôn ngữ của ngữ hệ, chỉ có tiếng Việt, tiếng Khmer và tiếng Môn là có lịch sử được ghi chép lại lâu dài và chỉ có tiếng Việt cùng tiếng Khmer là các ngôn ngữ có địa vị ngôn ngữ chính thức (tương ứng tại Việt Nam và Campuchia). Các ngôn ngữ còn lại chỉ được một thiểu số người sử dụng.

Các ngôn ngữ trong ngữ hệ này có sự phân bố rời rạc xuyên suốt Ấn Độ, Bangladesh và Đông Nam Á, bị chia tách theo các khu vực trong đó các ngôn ngữ thuộc các ngữ hệ khác được sử dụng. Người ta nói chung cho rằng các ngôn ngữ trong ngữ hệ Nam Á là các ngôn ngữ bản địa của khu vực Đông Nam Á và miền đông tiểu lục địa Ấn Độ, còn các ngôn ngữ khác trong khu vực, bao gồm các ngôn ngữ của ngữ hệ Ấn-Âu, ngữ hệ Tai-Kadai, ngữ hệ Dravida và ngữ hệ Hán-Tạng chỉ là kết quả của các đợt di cư muộn hơn của con người. Chẳng hạn, tồn tại các từ nguồn gốc từ ngữ hệ Nam Á trong các ngôn ngữ Tạng-Miến ở miền đông Nepal. Một số nhà ngôn ngữ học; như Wilhelm Schmidt hay Paul K. Benedict; cố gắng chứng minh rằng ngữ hệ Nam Á có liên quan với ngữ hệ Nam Đảo (Austronesia), và như thế tạo thành một siêu hệ ngôn ngữ gọi là Austric.

Ngữ hệ Nam Á được biết đến vì kiểu "âm tiết rưỡi", với các danh từ và động từ cơ bản bao gồm một âm tiết đầy đủ cộng với một âm tiết phụ giảm nhẹ. Nhiều từ trong số này cũng có các trung tố.

Phân loại
Theo truyền thống, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ chia hệ Nam Á thành 2 nhóm chính gọi là Munda (Đông và Trung Ấn Độ cùng Bangladesh) và Môn-Khmer (Đông Nam Á, đông bắc Ấn Độ và quần đảo Nicobar), nhưng hai nghiên cứu phân loại gần đây đã loại bỏ nhánh Mon-Khmer như là một nút hợp lệ, mặc dù nó vẫn chưa được công nhận chắc chắn và rộng khắp.

Truyền thống
Theo truyền thống, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ chia hệ Nam Á thành 2 nhóm chính gọi là Munda (Đông và Trung Ấn Độ cùng Bangladesh) và Môn-Khmer (Đông Nam Á, đông bắc Ấn Độ và quần đảo Nicobar). Tuy nhiên, không có chứng cứ nào cho kiểu phân loại này đã từng được công bố, và rất có thể là phân loại ngôn ngữ này chịu ảnh hưởng từ nhận thức chủ quan của các nhà nghiên cứu về sự phân đôi theo chủng tộc giữa những người nói các ngôn ngữ theo truyền thống được gọi là nhóm Mon-Khmer và những người theo truyền thống được gọi là nhóm Munda.

Mỗi một nhóm được viết chữ đậm dưới đây được chấp nhận như là nhánh hợp lệ. Tuy nhiên, các mối quan hệ giữa các nhóm này trong phạm vi ngữ hệ Nam Á vẫn gây tranh cãi.

1.Munda: bao gồm khoảng 20 ngôn ngữ tại miền đông của Ấn Độ. Nhóm này được chia ra làm 2 nhánh:
Nhánh phía Bắc
Nhánh phía Nam
2.Môn-Khmer: bao gồm khoảng 150 ngôn ngữ đa số tập trung tại Đông Nam Á. Nhóm này được chia ra làm các nhánh sau đây:
Khasi
Khơ Mú
Palaung
Tiếng Mảng tại Việt Nam.
Ba Na
Cơ Tu (Katu)
Pear
Tiếng Khmer của Campuchia.
Asli
Môn
Nicobar
Việt (Việt-Mường)
Tiếng Palyu
Đề xuất gần đây
Bổ sung cho kiểu phân loại truyền thống là 2 đề xuất gần đây, trong đó không một đề xuất nào chấp nhận nhóm Môn-Khmer truyền thống như là một đơn vị phân loại hợp lệ. Cũng cần lưu ý rằng chỉ một ít dữ liệu (được sử dụng cho các phân loại cạnh tranh lẫn nhau này) đã từng được công bố, và vì thế hiện tại không thể đánh giá chúng theo kiểu xem xét phê bình ngang hàng.

Gérard Diffloth
2005
Diffloth so sánh các tái tạo của các nhánh khác nhau và cố gắng phân loại chúng dựa theo các điểm mới được chia sẻ. Dưới dạng sơ đồ như sau:

Nam Á   Munda  
Remo
Savara
Kharia-Juang
Korku
Kherwari
Khasi-
Khơ Mú  
Khơ Mú
Pakan
Palaung
Khasi
Môn-Khmer (hạt nhân)  
Việt
Katu ?
Ba Na
Khmer
Pear
Nicobar
Asli
Môn
Hay biểu diễn chi tiết như sau:

Munda (Ấn Độ)
Koraput: 7 ngôn ngữ
Munda lõi
Kharia-Juang: 2 ngôn ngữ
Bắc Munda
Korku
Kherwari: 12 ngôn ngữ
Nhóm Khasi-Khơ Mú (Bắc Môn-Khmer)
Khasi: 3 ngôn ngữ miền đông Ấn Độ và Bangladesh
Nhóm Palaung-Khơ Mú
Khơ Mú: 13 ngôn ngữ tại Lào, Thái Lan và Việt Nam
Nhóm Palaung-Pakan
Pakan hay Palyu: 4-5 ngôn ngữ miền nam Trung Quốc và Việt Nam
Palaung: 21 ngôn ngữ tại Myanma, miền nam Trung Quốc, Thái Lan
Môn-Khmer hạt nhân
Nhóm Khmer-Việt (Đông Môn-Khmer)
Nhóm Việt-Katu ?[1]
Việt: 10 ngôn ngữ tại Việt Nam và Lào, bao gồm cả tiếng Việt, ngôn ngữ đông người sử dụng nhất trong ngữ hệ Nam Á. Nhóm này cũng là nhóm ngôn ngữ duy nhất trong ngữ hệ Nam Á có hệ thống thanh điệu phát triển cao.
Katu: 19 ngôn ngữ tại Lào, Việt Nam, Thái Lan.
Nhóm Khmer-Ba Na
Ba Na: 40 ngôn ngữ tại Việt Nam, Lào, Campuchia.
Nhóm Khmer
Các phương ngữ Khmer tại Campuchia, Thái Lan, Việt Nam.
Pear: 6 ngôn ngữ tại Campuchia.
Nhóm Nicobar-Môn (Nam Môn-Khmer)
Nicobar: 6 ngôn ngữ tại quần đảo Nicobar, lãnh thổ thuộc Ấn Độ.
Nhóm Asli-Môn
Asli: 19 ngôn ngữ trên bán đảo Mã Lai và Thái Lan.
Môn: 2 ngôn ngữ, tiếng Môn của Myanma và tiếng Nyah Kur ở Thái Lan.
1974
Phân loại của Diffloth năm 1974 được trích dẫn rộng rãi, nhưng hiện nay bị chính ông bác bỏ, được sử dụng trong Encyclopædia Britannica và trong Ethnologue (ngoại trừ phần chia tách Nam Môn-Khmer).

Munda
Bắc Munda
Korku
Kherwari
Nam Munda
Kharia-Juang
Koraput Munda
Môn-Khmer
Đông Môn-Khmer
Khmer (Campuchia)
Pear
Ba Na
Katu
Việt (bao gồm cả tiếng Việt, tiếng Mường)
Bắc Môn-Khmer
Khasi (Meghalaya, Ấn Độ)
Palaung
Khơ Mú
Nam Môn-Khmer
Môn
Asli (Malaya)
Nicobar (quần đảo Nicobar)
Ilia Peiros (2004)
Peiros đưa ra phân loại thống kê từ vựng, dựa trên tỷ lệ phần trăm từ vựng chia sẻ chung. Điều này có nghĩa là hai ngôn ngữ trên thực tế có thể có quan hệ họ hàng xa hơn là trên lý thuyết do tiếp xúc ngôn ngữ, vì thế chỉ nên coi nó là điểm khởi đầu cho một phân loại phả hệ chính xác hơn.

Nicobar
Munda-Khmer
Munda
Môn-Khmer
Khasi
Môn-Khmer hạt nhân
Nhóm Mảng (Mảng + Palyu) (có lẽ trong nhánh Bắc MK)
Việt (có lẽ trong nhánh Bắc MK)
Bắc Môn-Khmer (Bắc MK)
Palaung
Khơ Mú'
Trung Môn-Khmer
Khmer
Pear
Asli-Ba Na
Asli
Môn-Ba Na
Môn
Katu-Ba Na
Katu
Ba Na
08/01/2011
dokakapro
Giới thiệu về câu hỏi này
Điểm thưởng cho câu trả lời hay nhất 5 điểm
3152 lượt xem
2 câu trả lời đã đăng
Câu hỏi có liên quan
câu trả lời: 12 số phiếu bầu: 1
câu trả lời: 4 số phiếu bầu: 0
câu trả lời: 8 số phiếu bầu: 1
câu trả lời: 2 số phiếu bầu: -1
câu trả lời: 1 số phiếu bầu: 0
câu trả lời: 1 số phiếu bầu: -1
câu trả lời: 3 số phiếu bầu: 0
câu trả lời: 2 số phiếu bầu: 0
x
©2013 Google - Điều khoản - Chính sách nội dung - Bảo mật - Nguyên tắc cộng đồng