Sài gòn có nhiều cái hơn hẳn Hà nội.
Sài gòn trẻ hơn, năng động hơn, hiện đại hơn Hà nội nhiều lần, nhưng cũng xô bồ hơn, và “nôm na” hơn. Trẻ, năng động, hiện đại thì đã quá rõ, không cần đưa ra bất cứ một dẫn chứng nào thì cũng không ai phản đối. Nhất là người Sài gòn. Còn cái sự thoải mái đến mức xô bồ của Sài gòn thì cũng có đầy bằng chứng, và trừ những lúc thái quá, thì nó cũng không đến nỗi quá khó chịu . Nhưng “nôm na”. Ừ! Nôm na thì sao?
Sài gòn luôn thắc mắc về chuyện tại sao Hà nội, vốn có tiếng là thanh lịch, lại có hiện tượng và chịu được hiện tượng “cháo chửi, phở quát …” Thắc mắc nhiều đến mức khi chưa được trả lời, cái thắc mắc ấy đã biến thành định kiến, một cách rất “nôm na”. Và trong mọi cuộc tranh luận về văn hóa vùng miền có dính đến Sài gòn Hà nội, định kiến ấy lại được nôm na mà đem ra một cách hả hê, như một luận cứ vững chắc về sự hơn hẳn của Sài gòn.
Nhưng Sài gòn không hiểu rằng, hay không chịu hiểu rằng, phần lớn những người Hà nội đã phải trải qua nhiều năm bao cấp, khi cả nước dồn nhân lực vật lực cho chiến trường, khi thủ kho to hơn thủ trưởng, khi mẹ vợ chửi con rể "Thằng khốn nạn, mày hủy hoại đời con gái bà. Bà tưởng mày là lái xe. Ai ngờ mày lại là phó tiến sĩ", khi cô mậu dịch viên béo ú có quyền bán cho ai cái gì cô ta thích, có quyền quát mắng xơi xơi những người đang xếp hàng chờ mua. Và nếu không nhẫn nhịn, bản thân bạn, vợ bạn, con bạn, thậm chí bố mẹ già của bạn, sẽ đói vì không đong được gạo, vì thiếu đi mấy lạng thịt, vài bìa đậu, cân cá biển mua theo tiêu chuẩn. Cái sự hống hách ấy, cái sự nhẫn nhịn ấy đã thành thói quen còn đến ngày nay. Giống như thói quen chiều khách và hoạnh họe nhân viên phục vụ, cũng còn đến ngày nay, của người Sài gòn đã thành hình từ những năm Mỹ thuộc.
Một lý do khác nữa là người Hà nội, những người Hà nội thực sự, với bản chất thanh lịch của mình, với những tiêu chuẩn trong văn hóa ứng xử đã thành hình cả nghìn năm, không có hứng thú cãi nhau ngoài đường ngoài chợ, nhất là với những người không ngang hàng. Trong tâm trí họ, những người có thể chửi bới ầm ỹ quát tháo vô lối như vậy ít nhất cũng không ngang hàng với họ về mặt văn hóa. Chưa kể phần lớn những người ấy là dân nhập cư. Có những người ở Hà nội ba đời vẫn chưa thành người Hà nội.
Nhưng không, Sài gòn không cần biết ba cái đó. Với họ, một cách nôm na, họ cho rằng những tiêu chuẩn của họ, và chỉ những tiêu chuẩn ấy, là đúng, là đáng kể. Cái gì là nhập gia tùy tục đáo giang tùy khúc, họ không quan tâm. Người Hà nội mang phở vào Sài gòn. Dân Sài gòn biến phở từ một món “quà”, chỉ để ăn chơi cho lửng bụng, thành một món ăn chính cho no. Họ cho thêm húng lìu, họ cho thêm giá, họ cho thêm vả, xà lách, ngổ, thậm chí diếp cá vào ăn chung với phở. Họ sáng tạo ra bát xe lửa, bát tàu bay. Với họ, cái bát quà nho nhỏ, với nước dùng thật trong và thanh, với một nhúm rau mùi rau thơm và hành hoa thái nhỏ, là không đủ. Rồi họ tiếp tục phát minh. Họ cho tương vào phở.
Phát minh là quyền của họ. Họ có thể cho bất cứ cái gì họ thích vào, họ có thể ăn bằng chậu nếu họ muốn. Nhưng với sự “nôm na” đã ăn vào máu, họ tin rằng như thế mới là phở. Họ ra Hà nội, nôm na chê bát nhỏ, nôm na gọi thêm giá thêm rau, nôm na đòi tương đỏ tương đen. Dĩ nhiên ở cái xứ Hà nội quê mùa, những thứ đó không có. Và họ nôm na mà kết luận rằng, đó là bằng chứng “Hà nội không có văn hóa ẩm thực”.
Sài gòn ghét nhất, và cũng sợ nhất Hà nội ở cái lối ăn nói nhiều tầng nhiều nghĩa. Họ không thích cái gọi là “hidden charming” của Hà nội. Không thích, họ thôi luôn. Không thèm khám phá. Và dễ dãi cho rằng chỉ có sự nôm na của mình là hay. Hãy xem các chương trình “Gặp nhau cuối tuần” để thấy điều này. Họ thích những cái gây cười phải được nôm na nói toẹt ra, giống như thò tay vào nách khán giả mà cù. Người Hà nội không thích cái kiểu “nôm na” như thế. Họ cần những cái phải vận dụng trí tuệ, dù ít dù nhiều.
Những tiêu chuẩn về văn hóa không phải qua một ngày mà có. Khi Sài gòn còn đang ra sức khai hoang, ra sức mở đất, thì Hà nội đã đang trong quá trình hoàn thiện văn minh. Khi còn phải vật lộn với mưu sinh, với tồn tại, khi còn đang ở tầng một tháp Maslow, người ta dễ bỏ qua nhiều thủ tục rườm rà của lễ tiết, mà đơn giản cứ nôm na nói toẹt ra. Mãi rồi cũng thành thói quen. Và thói quen, thì khó bỏ.
Một người bạn tôi, sinh ra và lớn lên tại Hà nội, làm việc ở Sài gòn vài năm, hiện đã quay ra Hà nội và vẫn mong ngóng ngày trở vào, khi trả lời câu hỏi của tôi đã nói rằng cô ấy yêu Hà nội như yêu mẹ, yêu Sài gòn như yêu … zai. Và tôi, tuy mới chỉ vào Sài gòn vài lần, lần lâu nhất cũng chỉ 6 tháng, đã thấy ngay rằng đó là một câu trả lời đúng cả cho tôi. Tôi cũng yêu Hà nội như yêu mẹ, và yêu Sài gòn như yêu gái … Sài gòn, dĩ nhiên. Mẹ thì thâm trầm hơn, kín đáo hơn, lặng lẽ hơn, tinh tế hơn. Còn gái, nhất là gái thời nay, thì ồn ã hơn, vui vẻ hơn, chịu chơi hơn, nhưng cũng xô bồ hơn và nhiều khi, nôm na hơn.