Trang chủ > Câu hỏi
Câu hỏi
Bệnh ho của người lớn chữa bằng thuốc tây nào. Bị ho nhiều ngày, có đờm đặc màu vàng, khi ho hay bị đau buốc ở ngực?
Bệnh ho của người lớn chữa bằng thuốc tây nào. Bị ho nhiều ngày, có đờm đặc màu vàng, khi ho hay bị đau buốc ở ngực? Khi có luồng gió thổi vào người là ho, ho rất nhiều, vào buổi tối. Ho làm người mệt mỏi. vậy nên khám ở đâu là tốt nhất, uống thuốc gì để mau lành bệnh. Chân thành cảm ơn.  
Bệnh | Thuốc | Y tế & Sức khỏe 09/02/2011 Đăng bởi Thích Học Hỏi
Câu trả lời
1 trong số 8
Bạn lên đi khám lao đi
09/02/2011 Đăng bởi Thanh Hai HM
2 trong số 8
Thanh Hai HM nói đúng đó, bạn nên đi khám lao đi (không phải là bạn lên đi khám lao đi).
09/02/2011 Đăng bởi Hoàng Anh
3 trong số 8
neu ban gay com ,sot nhe vao buoi chieu,sut can ,nen di kham lao,chieu xquang up lung vao va chieu xoay lung lai
09/02/2011 Đăng bởi Chưa đặt tên
4 trong số 8
Ho của bạn là ho bình thường thôi, nếu lao thì ho khan không có đờm. Ho nhiều khi không phải là bệnh mà là bài tiết thải ra những gì tồn động trong phổi. Bạn chỉ cần ra tiệm thuốc mua chai Si-rô ho về uống. Uống hơn một chai 150ml sẽ hết ho.Nhớ kiêng hút thuốc hay ăn gia vị quá cay!
09/02/2011 Đăng bởi HẢ HỌNG HỎI
5 trong số 8
bạn bị viêm phế quản nặng rồi bạn nên đi khám xn và uống thuốc đi , medotax .hasulaxin. cefalecin và có thể mua thêm thuốc lọ để uống nữa
11/03/2011 Đăng bởi olaola
6 trong số 8
Thuốc long đờm giúp làm tăng thể tích các dịch tiết đường hô hấp để chúng dễ bị bật ra ngoài, tránh vướng cổ gây khó chịu. Thuốc có thể gây các cục đờm, đôi khi làm tắc nghẽn đường thở. Không dùng loại này cho những người suy hô hấp, hen suyễn, trẻ em và phụ nữ nuôi con bú.

Ho là động tác thở hắt mạnh, bật phát qua thanh môn đóng kín một cách cưỡng bức, làm thanh môn đột ngột mở ra, tống không khí cùng với những chất không mong muốn (gây vướng mắc khó chịu) ra ngoài khí quản. Đó là một cơ chế sinh lý bảo vệ cơ thể, nhưng cũng là triệu chứng của một số bệnh.

Các nguyên nhân gây ho gồm lao phổi, viêm phổi, hen suyễn, tâm phế mạn, ung thư phổi, phổi tắc nghẽn mạn (COPD), giãn phế quản, áp-xe phổi, tràn khí màng phổi, bệnh do virus, hút thuốc... Phần lớn trường hợp ho do viêm nhiễm vi khuẩn cấp tính (tai mũi họng, răng hàm mặt, phế quản, phổi...), do kích ứng, dị ứng và cả dị vật.

Hiện có nhiều loại thuốc trị ho (chưa kể Đông dược), có thể phân ra các nhóm chính sau:

1. Thuốc trị ho có tác dụng trung tâm: Qua hệ thần kinh trung ương, thuốc làm tăng ngưỡng của trung tâm ho ở não đối với phản xạ gây ho; hoặc qua hệ thần kinh ngoại biên làm giảm độ nhạy cảm của các thụ thể ở khí quản. Một số thuốc có tác dụng làm tê hay giảm đau trên thụ thể, bảo vệ thụ thể chống các kích thích hoặc gây giãn phế quản. Các thuốc đó là: codein, pholcodin, dextromethorphan, clobutanol, dropropizin, eprazinon, với các biệt dược Terpicod, Paderyl, Nospan, Maxcom... Các thuốc nhóm này, nhất là codein, pholcodin, dextromethorphan, không được dùng cho người suy hô hấp, hen suyễn, trẻ em, người nuôi con bú.
2. Thuốc long đờm: Gồm ipecacuanha, muối amoni, muối iod, một số tinh dầu như cajiput, bạc hà, gừng, natri benzoat, terpin. Các biệt dược: Ho long đờm, Acodin, Terpicod, Passedyl, Pulmonal, Terpin...

3. Thuốc tiêu chất nhầy: Làm thay đổi cấu trúc niêm dịch, giảm độ nhớt, dễ đào thải. Đó là các hoạt chất autylcystein, carbocystin, metylcystein, mesna... Các biệt dược: ACC, Acemuc, Turant, Rhinathiol, Mucusan... Nhóm thuốc này có thể gây tràn dịch phổi (ngập) và phá hỏng lớp chất nhày bảo vệ niêm mạc dạ dày. Cần thận trọng với người có tiền sử loét dạ dày - tá tràng. Thuốc cũng không nên dùng cho người có thai 3 tháng đầu thai kỳ và người nuôi con bú.

4. Thuốc giống giao cảm: Có tác dụng chủ vận alpha, gây nên co mạch niêm mạc mũi, trị sung huyết. Thuốc dùng toàn thân như phenylephrin, pseudoephedrin... hoặc tại chỗ như naphazolin.

5. Các thuốc kháng histamin: Có tác dụng làm dịu, trị ho và làm giảm dẫn truyền thần kinh cholinergic, làm giảm tiết dịch mũi (viêm mũi, chảy nước mũi vào họng khí quản gây ho). Nhóm thuốc này có diphenhydramin, chlorpheniramin... Các biệt dược: Toptusan, Toplexil, Tiffy, Rhumenol... Thuốc có tác dụng phụ là gây ngủ ban ngày, rất bất lợi cho nhiều công việc như vận hành máy, lái tàu xe, làm việc trên cao hoặc nơi nguy hiểm. Tuy nhiên, dùng về đêm lại có lợi. Thuốc không dùng cho người ho có đờm vì có thể gây ra những cục đờm tắc nghẽn, không dùng cho người hen suyễn.

6. Các thuốc làm dịu: Có tác dụng ngoại biên gián tiếp, bao lấy các thụ thể thần kinh cảm giác ở họng như cam thảo, mật ong, sucrose sirô. Nói chung các thuốc này dùng an toàn. Tuy nhiên, không nên dùng bất kỳ loại mật ong nào cho trẻ em dưới 1 tuổi.

7. Các thuốc tê: Tác dụng gián tiếp trên các thụ thể cảm giác. Được dùng qua đường hít, ngậm trong trường hợp ho khó chữa như viêm đường hô hấp trên, ung thư. Thuốc có thể làm mất tất cả các phản xạ có tác dụng bảo vệ phổi và gây co thắt phế quản, tạm thời làm mất phản xạ nuốt; vì vậy phải thận trọng khi dùng.

8. Thuốc trị ho phối hợp nhiều thành phần: Đây là vấn đề mà các nhà điều trị học còn nhiều bàn cãi và nhiều người cho là phi lôgic, mang lại nhiều tác dụng phụ. Các chất phối hợp gồm kháng sinh, vitamin, sát khuẩn (guaifenesin), opioid, các chất làm long đờm, tiêu chất nhày, đặc biệt phải kể đến các chất giống giao cảm và kháng histamin. Hai thuốc này có rất nhiều tác dụng phụ nặng nề với những người tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh mạch vành, bệnh tuyến giáp, glaucoma, u phì đại tuyến tiền liệt, ho có đờm, người mang thai, trẻ con và người cao tuổi, người suy hô hấp, bệnh tim, bệnh lý đường hô hấp và tai biến mạch máu não.

Cần cân nhắc và thận trọng với các biệt dược như Actifed, Actitab, Ameflu, Ametussin, Atussin, Codepect, Contac, Dicolsin, Tiffy, Rhumenol... Chúng đều là những thuốc phối hợp từ 3 đến 5 chất, ngoài tác dụng phụ lại còn tương tác bất lợi với các thuốc khác dùng cùng lúc. Đang dùng thuốc lại vui chén với bạn bè thì khó lường hết những đột biến sau đó.

Ho có thể chỉ là một triệu chứng gây khó chịu, nhưng cũng có thể biểu hiện một bệnh lý nghiêm trọng, đặc biệt với trẻ em và người cao tuổi. Phải dè chừng khi ho có kèm theo sốt, khó thở, tím tái, ho kéo dài, suy kiệt...; bệnh nhân cần được khám xét cẩn thận. Liệu pháp được lựa chọn phải dựa vào đặc điểm ho khan hay ho có đờm. Ho khan thường do cảm lạnh, cúm, viêm nhiễm đường hô hấp trên, chảy nước mũi vào trong hoặc do kích ứng; có thể dùng codein, pholcodin, dextromethorphan và kháng histamin về đêm.

Ho có đờm thường liên quan đến các bệnh đường hô hấp mạn tính. Việc dùng các thuốc long đờm, tiêu chất nhày, giãn phế quản kết hợp với corticoid, các enzym (serrapeptase hoặc chymotrypsin) và kháng sinh là khá hữu ích. Có ít bằng chứng cho thấy, các thuốc ho tác dụng trung tâm có hiệu quả trong trường hợp ho nặng.
15/08/2011 Đăng bởi Bạch biến là chuyện nhỏ
7 trong số 8
Khái niệm
-Theo Hội thảo quốc tế tại Anh 1965, viêm phế quản mạn là ho khạc lâu ngày, ít nhất là 90 ngày trong một năm và đã kéo dài 2 năm liên tục, sau khi loại trừ các nguyên nhân khác (lao, apxe, giãn phế quản...)
- Có 3 loại chính: thể đơn thuần ho khạc đờm nhày; thể đờm mủ (hay mắc đi mắc lại); và thể khó thở.
Nguyên nhân
chủ yếu là sự xâm nhập của vi khuẩn và sự suy giảm khả năng đề kháng của cơ thể
Yếu tố thuận lợi
làm suy giảm sức chống đỡ của niêm mạc là khói thuốc lá và không khí ô nhiễm
Triệu chứng
thay đổi khác nhau tùy từng giai đoạn:
- Mới bắt đầu là ho và khạc đờm: Ho xảy ra nhiều trong một năm, từng đợt, dễ xuất hiện khi trời lạnh hoặc thay đổi thời tiết, có thể ho khan nhưng thường ho có đờm màu trắng và có bọt. Khi ho lâu ngày, đờm đặc hơn, màu vàng và có mủ, khối lượng đờm hằng ngày ít nhất 5-10ml (đầy một đáy bao diêm) về sau tăng nhiều hơn. Khi tiến triển lâu ngày, thêm biến chứng giãn phế quản hoặc apxe hoá, khối lượng đờm có thể hàng chén. Các đợt ho đờm thường xảy ra lặp đi lặp lại, ban đầu 4-5 lần một năm, mỗi lần 10-15 ngày, về sau thường xuyên và kéo dài hơn.
- Khó thở là một triệu chứng quan trọng, xảy ra ở giai đoạn muộn hơn. Lúc đầu chỉ là cảm giác "trống hơi" nặng nề như bị đè nén trong ngực, dần dần bệnh nhân cảm thấy thiếu không khí thực sự.
- Ngoài ra còn có một số triệu chứng khác, tuy không thường xuyên như gầy sút, xanh xao, buồn ngủ lơ mơ suốt ngày, tim đập nhanh...
Ðiều trị
- Tùy từng trường hợp cụ thể, về nguyên tắc, điều trị viêm phế quản mạn gồm 3 nội dung chính: chống nhiễm khuẩn mới (bội nhiễm); phục hồi lưu thông không khí; chống nguy cơ suy hô hấp
Phòng bệnh
: dự phòng 3 cấp: 1. dự phòng căn nguyên, loại trừ các yếu tố gây bệnh (dự phòng cơ bản); 2. dự phòng "chậm trễ": phát hiện kịp thời, điều trị đúng lúc; 3. dự phòng "tàn phế": tích cực điều trị dù đã muộn, hạn chế tàn phế, đẩy lùi tử vong
- Chống hút thuốc và các nguyên nhân gây ô nhiễm không khí (khói, bụi, không khí bẩn) trong gia đình cũng như nơi làm việc
- Chữa các ổ viêm nhiễm mạn tính vùng mũi họng
- Giảm uống rượu
- Phòng các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cho trẻ em
- Ðiều trị sớm và triệt để các viêm nhiễm đường hô hấp.
19/08/2011 Đăng bởi Bạch biến là chuyện nhỏ
8 trong số 8
8
05/03/2014 Đăng bởi Chưa đặt tên
Bạn cũng có thể quan tâm
cho em hỏi, em bị chảy nước mũi + ho khan vậy phải uống thuốc j ạ
Bị viêm họng, ho, sổ mũi, nhức đầu, sốt là bị bệnh gì? Ai biết xin hỉ thuốc cho mình với.
benh
Trị bệnh cảm cúm khi mang thai?
em bị đấm ở mạn sườn trái, khi về nằm nghiêng người rất đau,khi ho,ấn vào rất đau,chỗ xương đau hơi hơi xưng,
Đăng nhập
Xem Giải Đáp ở: Di động | Cổ điển
©2014 Google - Chính sách bảo mật - Trợ giúp