Trang chủ > Câu hỏi
Câu hỏi
Chữ Nôm lần đầu tiên xuất hiện là khi nào? Chứng tích của nó?
Văn hóa xã hội | Thi cử | Kế toán 10/11/2010 Đăng bởi Chưa đặt tên
Câu trả lời
1 trong số 2
Chữ Nôm (chữ Nôm: 字喃·𡨸喃·𡦂喃) là tên gọi của cách viết biểu ý trong thời cổ đại và trung đại của tiếng Việt dựa trên những thành tố của chữ Hán thường để viết những tiếng thuần Việt, gọi là Quốc Âm.

Hình thành

Rất có thể trong lịch sử, chữ Nôm đã tạo ra từ những năm đầu khi người Trung Hoa chinh phục miền Bắc nước Việt Nam ngày nay. Những chữ Nôm đầu tiên được sử dụng để chỉ cách gọi địa danh, hoặc những khái niệm không có trong Hán văn, mặc dù điều này do những cứ liệu thành văn còn lại hết sức ít ỏi, đã không thể kiểm chứng được một cách chính xác. Phạm Huy Hổ trong "Việt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào" cho rằng chữ Nôm có từ thời Hùng Vương. Văn Đa cư sĩ Nguyễn Văn San cho rằng chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp cuối đời Đông Hán thế kỷ thứ 2. Nguyễn Văn Tố dựa vào hai chữ "bố cái" trong từ ngữ "Bố Cái đại vương" do nhân dân Việt Nam suy tôn Phùng Hưng mà cho rằng chữ Nôm có từ thời Phùng Hưng thế kỷ 8. Có ý kiến khác lại dựa vào chữ "cồ" trong quốc danh "Đại Cồ Việt" (大瞿越) để đoán định chữ Nôm có từ thời Đinh Tiên Hoàng. Trong một số nghiên cứu vào thập niên 1990, các nhà nghiên cứu căn cứ vào đặc điểm cấu trúc nội tại của chữ Nôm, dựa vào cứ liệu ngữ âm lịch sử tiếng Hán và tiếng Việt, so sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán Việt đã đi tới khẳng định âm Hán Việt (âm của người Việt đọc chữ Hán) ngày nay bắt nguồn từ thời Đường-Tống thế kỷ 8-9. Nếu âm Hán Việt có từ thời Đường, Tống thì chữ Nôm không thể ra đời trước khi cố định cách đọc Hán Việt (nếu xét chữ Nôm với tư cách hệ thống văn tự) và chỉ có thể ra đời sau thế kỷ thứ 10 khi Việt Nam thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng của Ngô Quyền vào năm 938[1].

Sau khi Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của Trung Quốc vào năm 939, chữ Nôm được hoàn chỉnh dần dần và chỉ đến thế kỷ 13-15 mới được dùng nhiều trong văn chương.

Phát triển

Hơn 1.000 năm sau đó, từ thế kỷ 10 cho đến đầu thế kỷ 20, khá nhiều tài liệu văn học, triết học, sử học, luật pháp, y khoa, tôn giáo được viết bằng chữ Nôm, mặc dù rất hiếm có những giai đoạn chữ Nôm được coi trọng, và chưa từng được sử dụng một cách có ý thức trong các văn bản hành chính của chính quyền, ngoại trừ những năm tồn tại ngắn ngủi của nhà Hồ và thời Tây Sơn. Những văn bản hành chính như sổ sách, công văn, giấy tờ, thư từ, khế ước, địa bạ v.v. chỉ đôi khi có xen chữ Nôm khi không thể tìm được một chữ Hán mang nghĩa tương đương để chỉ các danh từ riêng (như tên đất, tên làng, tên người), nhưng tổng thể vẫn là văn bản Hán Việt bởi quan niệm của giới sĩ đại phu các triều đại bấy giờ là: "nôm na là cha mách qué". Dưới triều đại nhà Tây Sơn, do sự hậu thuẫn của chính quyền của Quang Trung hoàng đế, toàn bộ các văn kiện hành chính buộc phải viết bằng chữ Nôm trong 24 năm, từ 1788 đến 1802. Nói cách khác, chữ Nôm là công cụ thuần Việt ghi lại lịch sử văn hoá của dân tộc trong khoảng 10 thế kỷ, mặc dù đó là công cụ còn chưa chứng tỏ được tính hữu hiệu và phổ dụng của nó so với chữ Hán.

Chữ Nôm được dùng phổ biến nhất trong các áng thi văn đủ loại từ Hàn luật, văn tế, truyện thơ lục bát, song thất lục bát, phú, hát nói, tuồng, chèo.

Sự kết thúc của chữ Nôm và Hán

Chữ Nôm ra đời bắt nguồn từ tư tưởng chống Hán hóa, là ý thức phản vệ của dân tộc trước những gì có tính ngoại lai. Vào thời kỳ Bắc thuộc, người phương Bắc tràn vào Việt Nam với dụng ý muốn đồng hóa dân tộc Việt, chữ Nôm ra đời chống lại xu hướng Hán hóa của người phương Bắc, đồng thời khẳng định tinh thần dân tộc, tuy nhiên, điều đó chưa thực sự mạnh mẽ một cách có ý thức.

Chữ Nôm thuộc loại hình văn tự khối vuông - nghĩa là toàn bộ chữ được cấu tạo trong một ô vuông, được xây dựng trên cơ sở chất liệu là chữ Hán và được đọc theo âm Việt.

Chữ Nôm xuất hiện ở Việt Nam khi chữ Hán đã vào Việt Nam và đã được hình thành một cách có hệ thống âm Hán Việt, nên ban đầu chữ Nôm thuần túy ghi âm Việt. Dần dần có những chữ Hán không ghi được âm Hán Việt cho nên các chữ Nôm sáng tạo được ra đời. Khi ý nguyện sáng tạo ra một dạng chữ riêng của người Việt trở nên mạnh mẽ hơn trong thời Lê, những chữ Nôm được tạo ra một cách có ý thức hơn đã giúp cho sự hình thành thêm nhiều chữ Nôm mới đủ để biểu đạt được tâm tư, nguyện vọng, tâm hồn và khí phách dân tộc trong các tác phẩm văn chương như thơ, phú, chiếu, cáo, biểu v.v. Sự sáng tạo đó đã để lại cho đời sau những di sản thơ Nôm vô giá từ những bài thơ của Nguyễn Thuyên đến Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, từ Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông đến Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, từ Đại Nam quốc sử diễn ca đến Đoạn trường tân thanh; từ những bài thất ngôn bát cú thơ Nôm của Hồ Xuân Hương đến dạng song thất lục bát trong Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, truyện thơ lục bát với Truyện Kiều của Nguyễn Du hay Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Ngoài ra thi ca hát nói của Nguyễn Khuyến, Tú Xương, và không ít những tác phẩm truyện Nôm khuyết danh khác như Thạch Sanh, Trê Cóc, Nhị độ mai, Phan Trần, Tấm Cám, Lưu Bình Dương Lễ, Ngư tiều vấn đáp y thuật, Kim thạch kỳ duyên, Nữ tú tài, v.v. Đó là chưa kể những vở tuồng hoặc chèo cũng được soạn bằng chữ Nôm.

Đọc và tham khảo thêm: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_N%C3%B4m
11/11/2010 Đăng bởi PITvietnam
2 trong số 2
chữ nôm là chữ tượng hình sử dụng bộ chữ hán để ghi âm tiếng việt.chữ nôm được ông cha ta cải biêb từ chữ hán.chữ nôm xuất hiện vào thời nhà trần khoảng thế kỷ 13 người có công phát triển chữ nôm la ông Hàn Thuyên (tức nguyễn thuyên thời nhà trần)
23/01/2011 Đăng bởi Chưa đặt tên
Bạn cũng có thể quan tâm
Chữ nôm và chữ hán cái nào quan trọng hơn??
hoi về Unikey
khi thêm số 12 vào bên trái số tự nhiên có 2 chữ số thì được 1 số gấp 26 lần số đó. tìm số tự nhiên có 2 chữ số đó?
Biết được chu vi của hình chữ nhật sao tính được diện tích?
tìm số có 2 chữ số biết rằng số đó chia cho 2,3,4,5 thì lần lượt có số dư là 1,2,3,4
Đăng nhập
Xem Giải Đáp ở: Di động | Cổ điển
©2014 Google - Chính sách bảo mật - Trợ giúp