Trang chủ > Câu hỏi
Câu hỏi
Những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa cộng sản?
Xã hội 23/02/2011 Đăng bởi Chưa đặt tên
Câu trả lời
1 trong số 2
Không biết GGGD có nên bỏ qua các câu hỏi về chính trị được không nhỉ. Đau đầu quá.
23/02/2011 Đăng bởi nahc-soraki
2 trong số 2
Tác giả : Th.s Nguyễn Văn Phượng - Gv Khoa Triết - CNXHKH

    Được sự uỷ nhiệm của những người cộng sản, ngày 24 tháng 2 năm 1948, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do C.Mác và Ph.Ăngghen soạn thảo được công bố trước toàn thế giới.
    Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là tác phẩm kinh điển chủ yếu của chủ nghĩa xã hội khoa học. Những nguyên lý C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày trong tác phẩm là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho toàn bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trải qua mọi thử thách, hơn một thế kỷ qua, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có nhiều vấn đề mới đặt ra đòi hỏi giải quyết, nhưng nội dung của Tuyên ngôn không hề lỗi thời. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã đặt nền tảng tư tưởng cho những vấn đề về cách mạng vô sản. Những tư tưởng đó có ý nghĩa thiết thực trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH ở nước ta.
    Lịch sử thế giới 160 năm qua đã chứng minh hùng hồn tính thời đại của Tuyên ngôn. Từ khi mới hình thành, C.Mác và Ăngghen đã cố gắng phác ho? ra mô hình CNXH với đầy đủ các đặc trương mà sau này được Lênin bổ sung và đưa vào thực tiễn, về xây dựng một xã hội không có áp bức bất công, con người được sống bình đẳng với nhau.
    Từ quan điểm của C.Mác - Ăngghen và Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với thực tiễn đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo vào công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam sau hơn 50 năm qua đã đạt được những thành tựu rực rỡ, cũng như đã mắc phải nhiều sai lầm, khuyết điểm. Việc đưa ra mô hình thực tiễn về XHCN tại Việt Nam đó là vấn đề thời sự vẫn đang được đem ra bàn luận thông qua các kỳ Đại hội. Đảng ta đã xác định được những mục tiêu và phương hương cho công cuộc xây dựng CNXH tại Việt Nam.
    Hiện nay có không ít giới trẻ còn có cái nhìn chưa đúng về con đường đi lên CNXH, cũng như phần lớn chưa có trong đầu hình dung tổng quan về mô hình XH XHCN mà nước ta đang phấn đấu đạt tới. “Những đặc trưng cơ bản của CNXH theo quan điểm của C.Mác - Ăngghen và Lênin và thực tiễn Việt Nam”. Hy vọng góp một phần nhỏ của bản thân về cái nhìn tổng quan và đúng đắn hơn về con đường mà đất nước đang đi, từ đó nhằm cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho học viên trường chính trị Nghệ An.
    Trong quá trình xây dựng học truyết của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học đã phác thảo ra một số nét về một xã hội tương lai.
    Thứ nhất: Cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ khí.
    Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, mỗi chế độ xã hội đều có một cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng, phản ánh trình độ phát triển kinh tế - kỹ thuật của nó.
    Nếu công cụ thủ công là đặc trưng cho cơ sở vật chất – kỹ thuật của các xã hội tiền tư bản chủ nghĩa thì nền đại công nghiệp cơ khí là cơ sở vật chất của chủ nghĩa tư bản. Xã hội xã hội chủ nghĩa nảy sinh với tính cách là phủ định biện chứng chủ nghĩa tư bản, thì cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội nhất thiết phải là nền đại công nghiệp phát triển và hoàn thiện trên một trình độ cao của nó.
    Thứ hai: Chủ nghĩa xã hội xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
    Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác, Ăngghen đã cho rằng: thủ tiêu chế độ tư hưu là cách nói vắn tắt nhất, tổng quát nhất về thực chất của cuộc cải tạo xã hội theo lập trường của giai cấp vô sản. Tuy nhiên, đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xoá bỏ chế độ sở hữu nói chung mà là xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa.
    Thứ ba: Chủ nghĩa xã hội tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới.
    Trong sự nghiệp kiến thiết chế độ xã hội mới, các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học rất quan tâm và coi trọng việc tổ chức lao động và kỷ luật lao động bị tha hoá trong xã hội cũ, xây dựng thái độ lao động mới phù hợp với địa vị là chủ của người lao động. Điểm khác nhau cơ bản giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là tính chất tư hữu và công hữu về tư liệu sản xuất. Lao động được tổ chức có kế hoạch và kỷ luật tự giác, tự nguyện là đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa.
Thứ tư: Chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.
    Trong giai đoạn đầu của CNCS, XHCN chưa cho phép thoả mãn đầy đủ mọi nhu cầu của con người. Vì vậy, phải thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động. Nội dung: “ai làm được nhiều thì phân phối nhiều, ai làm được ít thì phân phối ít”. Mọi người đều phải lao động. Nguyên tắc này khuyến khích mọi người lao động, nâng cao trình độ, thành thạo về nghề nghiệp. Mặt khác XH XHCN không ngừng chăm lo mở rộng cho các công trình phúc lợi chung, nhằm nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần cho nhân dân.
    Thứ năm: Nhà nước trong chủ nghĩa xã hội là nhà nước kiểu mới, thể hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động.
    Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã đề cập tới khái niệm chuyên chính vô sản khi xác định bản chất – nhà nước được xác lập do thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thực chất của chuyên chính vô sản là sự lãnh đạo của chính đảng của giai cấp công nhân đối với nhà nước và toàn xã hội nhằm bảo vệ và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền dân chủ thuộc về nhân dân, trước hết là nhân dân lao động.
    Thứ sáu: Chủ nghĩa xã hội giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, thực hiện sự bình đẳng xã hội, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.
    Mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người khỏi mọi ách bóc lột về kinh tế và nô dịch về tinh thần, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.
    Những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội được các nhà kinh điển đưa ra là kết quả của việc nhận thức tình hình kinh tế xã hội cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trong sự đối chiếu, so sánh với chủ nghĩa tư bản đương thời. Những đặc trưng đó đã thể hiện trình độ phát triển cao hơn, tốt đẹp hơn của chủ nghia xã hội so với chủ nghĩa tư bản.
    Trên cơ sở nhận thức về thời đại, nhận thức về dân tộc và sức mạnh dân tộc, từ thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã khai phá ra một con đường mới cho dân tộc. Con đường đó chưa có tiền lệ, nhưng nó không trái với nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và lại phù hợp với Việt Nam, mang đậm dấu ấn của tư tu?ng Hồ Chí Minh, thể hiện tư duy lý luận của Đảng ta về CNXH không ngừng vận động và phát triển.
    Nhận thức ấy được thể hiện trong quá trình Đại hội VI – IX. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước (1986 - 2001) nhận thức về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng rõ hơn. Từ quan niệm: Con đường đi lên CNXH ở nước ta không phải trải qua giai đoạn phát triển TBCN đến việc xác định: Con đường đi lên CNXH ở nước ta “là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN” (Đảng CSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, HN, 2006, Tr84). Nội hàm của luận điểm “ bỏ qua chế độ TBCN” được Đảng ta làm rõ hơn: “…bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc biệt là về khoa khọc và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế thị hiện đại.”
    Mô hình CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, không thể vạch ra một cách cụ thể, chi tiết ngay từ đầu và cũng không thể chỉ một lần là xong. Cùng với sự vận động và biến đổi của thế giới hiện nay, của thực tiễn xây dựng CNXH, sẽ cung cấp thờm những cứ liệu mới để bổ sung cho nhận thức của Đảng ta về CNXH về mô hình CNXH và con đường để thực hiện mô hình đó. Nhận thức ấy, hoàn toàn đúng với lời chỉ dẫn của Ăngghen: “cái gọi là “Xã hội XHCN” theo ý kiến tôi, không phải là cái gì đó nhất thành bất biến, mà cũng như mọi chế độ xã hội khác, nó cần được xem xét như một xã hội được thay đổi và cải tạo thường xuyên.
Đại hội Đảng lần thứ X (2006) đã khẳng định: “Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng sáng tỏ hơn”.
Đại hội xác định: XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:
    + Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh;
    + Do nhân dân làm chủ;
    + Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất;
    + Có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
    + Con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện;
    + Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ;
    + Có nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản;
    + Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
    Có thể khẳng định rằng, công cuộc đổi mới đất nước trải qua hơn 20 năm đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, trong đó có những thành tựu đổi mới nhận thức, lý luận về chủ nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà những tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta về những vấn đề đó được bắt nguồn từ những tư tưởng chỉ đạo của các nhà kinh điển Mácxit đã nêu trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản cách đây tròn 160 năm vẫn còn nguyên giá trị và định hướng cho chúng ta tiếp tục nghiên cứu./.
23/02/2011 Đăng bởi Thanh Hai HM
Bạn cũng có thể quan tâm
Trên thế giới có bao nhiêu nước XHCN?
đặc trưng nào thể hiện rõ nét nhất trong cuộc sống thực tiễn hiện nay?
đặc điểm quan trọng nhất của Chủ Nghĩa Tư bản độc quyền
Tại sao Việt Nam lựa chọn cách mạng vô sản?
có bao nhiêu quốc gia theo chủ nghĩa xã hội ?
Đăng nhập
Xem Giải Đáp ở: Di động | Cổ điển
©2014 Google - Chính sách bảo mật - Trợ giúp