Trang chủ > Câu hỏi
Câu hỏi
công dụng của tam thất
Trang trí | Bảo hiểm 15/02/2011 Đăng bởi Chưa đặt tên
Câu trả lời
1 trong số 4
BS. NGUYỄN VĂN DƯƠNG

Thầy thuốc y học dân tộc gọi là nhân sâm tam thất, sâm tam thất hay kim bất hoán (vàng không đổi được - vị thuốc rất quý). Có tên khoa học cùng họ sâm Panax Pseudo - Ginseng Wall (Panax repens Maxim). Thuộc họ ngũ gia bì (Araliaceat).

Người ta có nhiều cách giải thích tam thất. Theo sách Bản thảo cương mục gọi "tam thất" vì cây có 3 lá bên trái, 4 lá bên phải (?). Có người lại nói tam = ba, tức từ gieo trồng đến ra hoa là 3 năm; thất = bảy, tức từ gieo trồng đến thu hoạch rễ bán được mất 7 năm. Lại có thuyết cho rằng vì lá tam thất có từ 3 đến 7 lá chét.

- Cây tam thất có rất nhiều ở Việt Nam ta, được trồng từ lâu với số lượng ít ở tỉnh Hà Tuyên (Đồng Văn), Hoàng Liên Sơn (Mường Khương, Bát Xát, Phà Lùng), Cao Lạng v.v... Tam thất mọc trên vùng núi cao 1.200-1.500m theo sườn núi ít gió mạnh, có dàn che nắng và phải có rào bảo vệ chuột và sóc đến ăn củ.

Ở Trung Quốc có nhiều tỉnh trồng cây tam thất, như Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây. Ở Tỉnh Vân Nam trồng nhiều nhất và tam thất ở đây được coi là tốt nhất. Chính thành phần hóa học của loại dược thảo này cũng được nghiên cứu và công nhận từ năm 1937-1941 ở Trung Quốc bởi các giáo sư Triệu Thừa Cổ và Chu Nhiệm Hoàng.

Tác dụng dược lý, công dụng, liều dùng: Năm 1937, hai tác giả Chu và Triệu có nhận xét thấy tính chất các Saponin trong tam thất không giống như Saponin thường: rất ít độc với loài cá. Với dung dịch tam thất 1/1000 hoặc 1/500, thả cá vàng vào dung dịch sau 24 giờ vẫn không trúng độc. Tiêm vào chó (được đánh mê bằng ête) 1-20mg arasapomin A hoặc B không thay đổi rõ rệt về huyết áp, với tim và hô hấp. Đối với khúc ruột và tử cung cô lập của thỏ và chuột bạch cũng không thay đổi.

Xưa có câu nói về công dụng của tam thất: tánh dược thì mạnh bạo, đắng ấm mà té tức trừ êm, ích gân xương, giúp thận vẹn toàn, trừ phong thấp bại tê ứ huyết.

Tài liệu cổ có ghi: tam thất vị ngọt, hơi đắng, tính ôn, vào 2 kinh can và vị, có tác dụng hành ứ; cầm máu, tiêu thũng, dùng trị thổ huyết máu cam, lî ra máu, ung thũng, bị chấn thương có máu bầm, sản phụ sinh xong máu hôi không sạch. Còn được dùng phổ thông trong nhân dân thì tam thất là 1 vị thuốc cầm máu, hữu dụng trong các trường hợp bị chảy máu, bị chấn thương do nhiều nguyên nhân, ứ huyết, sưng bầm, đau nhức.

- Liều dùng: Độc vị, ngày từ 5 - 10g tùy nặng nhẹ với dạng thuốc sắc, hoặc thuốc bột loại tốt. Thầy thuốc coi tam thất là vị thuốc vừa trị bệnh đồng thời cũng là vị thuốc bổ thay nhân sâm.

- Trong dân gian có bài Thập bổn thang gia giảm có dùng tam thất chữa bệnh băng huyết: tam thất 1g, gia cỏ mực 5g, nhỏ chảo gang 1g, muồng 1g. Thuốc sắc hoặc chế thành bột uống.

- Trị ngoài da: dùng củ tam thất loại tốt mài ra nước keo vàng vàng, thoa hoặc đắp chỗ sưng đau nhức vùng da mặt, khi lành sẽ không bị nám sẹo.

* Chú ý: Ngoài vị thuốc tam thất chính kể trên, trong dân gian còn dùng rễ cây thổ tam thất thay tam thất. Thổ tam thất được xác định là Gynura Segetrium (Lour Merr hay Gynura Pinnatifida, thuộc họ cúc (Campositae). Dùng lá và rễ để làm thuốc cầm máu như vị tam thất, và dùng chữa bị rắn cắn.

- Một cây nữa thuộc họ gừng (Zingiberaceae) chỉ Stahlianthus có thân rễ nhỏ được bán với tên tam thất. Chú ý tránh nhầm lẫn, mua giá quá đắt một cây trồng rất dễ và ít có tác dụng.

Liệt dương + di tinh

Cây xộp: cành và lá phơi khô 100g

Đậu đen 50g

Đường vừa đủ cho sau 10 ngày

Rượu 250ml

Ngâm 10 ngày thành rượu thuốc. Uống 10-30ml, 2-3 lần mỗi ngày.

BS. N.V.DƯƠNG
http://********dong.gov.vn/cdrom/yte/tamthat.htm


Cây tam thất có tên khoa học là: Panax pseudoginseng Wall (Panax repens Maxim), thuộc họ Ngũ gia bì (Araliaceae).

Cây tam thất còn có tên là: sâm tam thất, kim bất hoán, nhân sâm tam thất, điền thất.

NGUỒN GỐC

Tam thất được trồng tại Trung Quốc. Nơi sản xuất chính cây tam thất là huyện Văn Sơn, Nghiên Sơn, Tây Trù, Mã Quan, Phú Ninh, Quảng Nam tỉnh Vân Nam; vùng Điền Dương trong chuyên khu Bạch Sắc, các huyện Tĩnh Tây, Đức Bảo, Lục Biên (khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây). Ngoài ra còn được trồng tại các tỉnh Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây.

Cây tam thất đã được di thực trồng ở nước ta vào những năm 1960 - 1970 tại các vùng núi cao trên 1.200 m thuộc huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Hoàng Su Phì (Hà Giang), Mường Khương, Bắc Hà, Xi Ma Kai, Sapa (Lao Cai) và các tỉnh Cao Bằng, Lai Châu.

Từ năm 1996 đến nay đang được nghiên cứu trồng tại thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng) .

MÔ TẢ

Tam thất là cây thân nhỏ, sống lâu năm. Cây cao khoảng 30 - 60 cm, thân mọc đứng, vỏ cây không có lông, có rãnh dọc, lá mọc vòng 3 - 4 lá một. Lá kép kiểu bàn tay xòe. Cuống lá dài 3 - 6 cm, mỗi cuống lá mang từ 3 đến 7 lá chét hình mác dài. Các gân lá mọc nhiều lông cứng, màu trắng, mặt lá màu xanh sẫm, mặt dưới màu nhạt hơn, mép lá có răng cưa nhỏ. Cây mọc một năm chỉ ra một lá kép, cây 2 tuổi trở lên thì có 2 - 6 lá kép mọc vòng xung quanh ngọn cây. Cây có hoa khoảng tháng 6 tháng 7 dương lịch. Hoa tự hình tán mọc đầu ngọn cây, gồm nhiều hoa đơn. Cuống hoa trơn bóng không có lông. Hoa lưỡng tính cùng lẫn với hoa đơn tính, có 5 cánh màu xanh, phần lớn là 2 tâm bì. Quả chín vào khoảng tháng 10, tháng 11 dương lịch. Quả mọng lúc chín màu đỏ. Mỗi quả có từ 1 - 3 hạt hình cầu, vỏ trắng. Cây có một rễ chính phình thành củ và có những rễ phụ. Trên mặt củ có nhiều vết sẹo do thân củ để lại sau mỗi mùa đông. Cây chỉ có một thân mang một chùm lá cố định, sống qua suốt năm và từ tháng 12 đến tháng 1 tàn lụi, sau đó cây lại mọc ra thân mới. Cây tam thất trồng tại thành phố Đà Lạt năm thứ 2 có hoa nhưng hạt lép.

BỘ PHẬN DÙNG

Tam thất trồng từ 3 đến 7 năm mới thu hoạch rễ củ để làm thuốc.

Đào rễ củ về, rửa sạch đất cát, cắt tỉa rễ con, phơi hay sấy đến gần khô, lăn xoa nhiều lần cho khô.

Rễ củ hình trụ hoặc khối, hình thù thay đổi, dài khoảng 1,5 - 4 cm, đường kính 1 - 2 cm. Mặt ngoài củ màu vàng xám nhạt, trên mặt có những nét nhăn nhỏ theo chiều dọc. Khi chưa chế biến có lớp vỏ cứng bên ngoài, khó bẻ và khó cắt. Có thể tách riêng khỏi phần lõi. Củ có mùi thơm nhẹ đặc trưng của tam thất. Rễ củ trồng lâu năm, củ càng to, nặng giá trị càng cao. Căn cứ vào trọng lượng củ để phân loại khi thu mua:

Loại 1: 105-130 củ nặng 1 kg;

Loại 2: 160-220 củ nặng 1 kg;

Loại 3: 240-260 củ nặng 1 kg.

THÀNH PHẦN HOÁ HỌC

Rễ củ tam thất có các chất như Acid amin, hợp chất có nhân Sterol, đường, các nguyên tố Fe, Ca và đặc biệt là 2 chất Saponin: Arasaponin A, Arasaponin B. Saponin trong tam thất ít độc.

CÔNG DỤNG

Rễ củ tam thất vị đắng ngọt, tính ấm vào 2 kinh can và vị. Có tác dụng bổ huyết, cầm máu, giảm đau, tiêu ứ huyết. Theo Dược điển Việt Nam, tam thất dùng trị thổ huyết, băng huyết, rong kinh, sau khi đẻ huyết hôi không ra, ứ trệ đau bụng, kiết lỵ ra máu, lưu huyết, tan ứ huyết, sưng tấy, thiếu máu nặng, người mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ít ngủ.

Theo tài liệu nước ngoài, tam thất có tác dụng giúp lưu thông tuần hoàn máu, giảm lượng Cholesterol trong máu, hạ đường huyết, kích thích hệ miễn dịch, ức chế vi khuẩn và siêu vi khuẩn, chống viêm tấy giảm đau... được dùng trong các trường hợp huyết áp cao, viêm động mạch vành, đau nhói vùng ngực, đái tháo đường, các chấn thương sưng tấy đau nhức, viêm khớp xương đau loét dạ dày tá tràng, trước và sau phẫu thuật để chống nhiễm khuẩn và chóng lành vết thương, chữa những người kém trí nhớ, ăn uống kém, ra mồ hôi trộm, lao động quá sức.

Gần đây, tam thất được dùng trong một số trường hợp ung thư (máu, phổi, vòm họng, tiền liệt tuyến, tử cung, vú ) với những kết quả rất đáng khích lệ. Một số bị huyết áp thấp do thiếu máu nặng cũng dùng tam thất được.

Phụ nữ có thai không được uống tam thất.

LIỀU LƯỢNG, CÁCH DÙNG

Theo Dược điển Việt Nam, liều lượng uống từ 4 đến 5g mỗi ngày; theo tài liệu nước ngoài lại ghi uống từ 6 - 10 g mỗi ngày.

Một số trường hợp bệnh nhân ung thư dùng từ 10 - 20 g mỗi ngày chia làm 4 đến 5 lần uống.

Tam thất dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc dạng bột, dùng ngoài có tác dụng cầm máu tại chỗ.

Người ta dùng tam thất để chữa ung thư bằng cách lấy bột sống uống bằng thìa nhỏ chiêu với nước lọc nguội hoặc dùng dạng thái lát ngậm nhai rồi nuốt. Trên thực tế một số người nhai tam thất sống đã bị rộp niêm mạc miệng, vì vậy có thể dùng bột hoặc thái lát tam thất hãm với nước sôi uống cả nước nhai cả bã vừa đơn giản giữ được hương vị, hoạt chất dễ bay hơi không mất đi, vừa có tác dụng chữa bệnh tốt.

Ngoài cây tam thất (Panax pseudoginseng Wall) kể trên còn có 2 loại tam thất mọc hoang:

- Vũ diệp tam thất còn gọi là tam thất hoang có tên khoa học Panax bipinna tifidus Seem có rễ củ nhiều đốt.

- Cây tam thất mọc hoang ở vùng Hà Giang, Lao Kai có tên khoa học Panax pseudoginseng Nees.

Hai cây này công dụng như cây tam thất nhưng rễ củ dài nhiều đốt.

Cần phân biệt một số cây có tên là "tam thất" hoặc các cây lấy củ giả làm tam thất để bán ngoài thị trường:

- Cây hổ trượng (cốt khí củ, điền thất nam) có tên khoa học là Polygonum cuspidatum Sieb et Zucc, họ Polygonaceae.

Rễ củ cây này dài ngắn không đều, mặt ngoài màu nâu vàng, mùi không rõ vị hơi đắng, dùng chữa phong thấp đau nhức xương, viêm gan, mhiễm trùng đường tiểu tiện.

- Cây thổ tam thất có tên khoa học là Gynura segetum (L.) Merr. hoặc Gynura pinnatifida thuộc họ Cúc (Compositae), lá và rễ dùng làm thuốc cầm máu, chữa rắn cắn.

- Tam thất gừng (tam thất nam, khương tam thất) có tên khoa học là Staplianthus thorlii Gagnep. thuộc họ gừng Zingiberaceae. Lá mọc thẳng từ thân rễ, phiến lá nguyên thân dài, hình mác hẹp đầu nhọn màu nâu tím. Củ rễ hình tròn thuôn một đầu hoặc hình trứng nhẵn, mặt ngoài màu vàng nhạt, thịt màu trắng ngà, vị cay nóng. Rễ tam thất gừng dùng chữa nôn mửa, kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh.

- Cây ngải tím (nghệ đen, nga truật) có tên khoa học Curcuma zedoaria Rose họ Zingiberaceae.

Củ khô rất cứng, vỏ ngoài màu nâu, có mùi thơm đặc biệt củ hình con quay (người ta hay làm giả tam thất bắc để bán). Củ này dùng chữa ứ huyết bế kinh, đau bụng vùng dưới .

*

Rễ củ cây tam thất là một vị thuốc bổ không kém nhân sâm mà còn có giá trị về mặt chữa bệnh. So sánh với nhiệt độ, độ ẩm, thời tiết, độ cao của vùng trồng tam thất tại tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), khí hậu thành phố Đà Lạt tương tự giống nhau. Tuy nhiên, cây tam thất lại ưa thời tiết ấm áp, sợ mưa nhiều, sợ lạnh, sợ nóng, thường mọc trong râm, ẩm. Chúng tôi đã dùng giống tam thất từ Trung Quốc đem trồng tại Đà Lạt trong giàn che phù hợp. Qua 3 năm trồng thử nghiệm nghiên cứu về thổ nhưỡng, phân bón, phòng trừ sâu bệnh, theo dõi sinh trưởng... bước đầu cho thấy tam thất trồng tại thành phố Đà Lạt phát triển tốt, cây đã ra hoa, cho hạt, kết quả khả quan.

Hiện nay chúng tôi đang tiếp tục nghiên cứu theo dõi hoạt chất và xây dựng quy trình trồng trọt cây tam thất tại thành phố Đà Lạt.

DS. NGUYỄN THỌ BIÊN

Sở y tế Lâm Đồng
http://www.yhoccotruyen.htmedsoft.com/baocheduoc/htmdocs/TamThat.htm
DƯỢC VỊ

--------------------------------------------------------------------------------

.
TAM THẤT
Tên thuốc: Radix Notoginsing.

Tên khoa học: Panax pseudo-ginseng (Burk)

Họ Ngũ Gia Bì (Araliaceae)

Bộ phận dùng: củ. Củ Tam thất mọc hoang ở rừng núi (loại to 85 củ = 1kg, nhỏ cũng được 102 củ = 1kg), cứng nặng đen, thịt xanh xám, chỗ cắt mịn thì tốt, còn thịt trắng vàng là kém, thứ Tam thất gây trồng thì bé hơn, thứ da nhẵn, ít đắng thì kém phẩm chất.

Không nhầm với củ Nga truật (Curcuma zedoaria Roscoe Họ Gừng) thường làm Tam thất giả và cũng đừng nhầm với Thổ tam thất (Gynura sgetum (Lour) Merr, Họ Cúc), củ to hơn, da ngoài vàng xám, ít đắng.

Có người nói lấy bột Tam thất cho vào máu vừa mới đặc mà máu tan ra thì đúng là Tam thất.

Thành phần hoá học: có hai chất Saponim là, Arasaponin A và Arasaponin B, ngoài ra còn có phần dầu, loại đường và nhựa.

Tính vị: vị đắng, hơi ngọt, tính ấm.

Quy kinh: Vào 2 kinh Can và Vị.

Tác dụng: tán ứ, sinh tân chỉ huyết.

Chủ trị: trị thổ huyết, băng huyết, lỵ ra huyết, ứ huyết do tổn thương (dùng tươi).

- Xuất huyết nội tạng hoặc xuất huyết ngoài: Dùng riêng bột Tam thất hoặc phối hợp với Hoa nhuỵ thạch và Huyết dư tán.

- Xuất huyết và sưng do chấn thương ngoài: Dùng Tam thất dạng bột dùng ngoài.

Liều dùng: Ngày dùng 4 - 6g.

Cách Bào chế:

Theo Trung Y: Mùa nắng hoặc mùa đông, đào lấy củ đem về rửa sạch, phơi khô khi dùng thái lát, tán bột.

Theo kinh nghiệm Việt Nam: Có thể dùng tươi, rửa sạch, giã đắp lên vết thương. Rửa sạch, phơi khô, khi dùng tán bột hoặc mài với nước mà uống, không dùng sắc và không sao tẩm gì. Rửa kỹ bằng bàn chải, để ráo, ủ rượu cho mềm, bào phiến mỏng, sấy nhẹ cho khô đựng trong lọ kín, khi dùng hãm riêng rồi hoà vào chén thuốc đã sắctới cho uống. Có người rửa kỹ để ráo, ủ rượu 3 giờ cho mềm, thái mỏng sao qua (vi sao), tán bột để dùng.

Bảo quản: cần tránh mọt, sao chế rồi đậy kín nên dùng ngay.

Kiêng ky: người huyết hư, không có ứ huyết thì không dùng.

Ghi chú:

hầm Tam thất với gà ác cho ăn thì rất bổ.
15/02/2011 Đăng bởi Bùi Văn Thu - KTMT05
2 trong số 4
Tác dụng chữa bệnh của tam thất


Củ tam thất.
Theo Đông y, tam thất vị ngọt hơi đắng, tính ôn, có tác dụng hóa ứ, cầm máu, tiêu sưng, giảm đau. Trong thời gian dùng tam thất để cầm máu, bệnh nhân không được sử dụng gừng, tỏi và các chế phẩm có gừng, tỏi.

Theo y học hiện đại, tam thất có các tác dụng sau:

- Bảo vệ tim chống lại những tác nhân gây loạn nhịp. Chất noto ginsenosid trong tam thất có tác dụng giãn mạch, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, tăng khả năng chịu đựng của cơ thể khi bị thiếu ôxy (tránh choáng khi mất nhiều máu). Nó cũng ức chế khả năng thẩm thấu của mao mạch; hạn chế các tổn thương ở vỏ não do thiếu máu gây ra.

- Cầm máu, tiêu máu, tiêu sưng: Chữa các trường hợp chảy máu do chấn thương (kể cả nội tạng), tiêu máu ứ (do phẫu thuật, va dập gây bầm tím phần mềm).

- Kích thích miễn dịch.

- Tác dụng với thần kinh: Dịch chiết rễ tam thất có tác dụng gây hưng phấn thần kinh. Nhưng dịch chất chiết lá tam thất lại có tác dụng ngược lại: kéo dài tác dụng của thuốc an thần.

- Giảm đau: Dịch chiết của rễ, thân lá, tam thất đều có tác dụng giảm đau rõ rệt.

Sau đây là một số bài thuốc có tam thất:

- Chữa thống kinh (đau bụng trước kỳ kinh): Ngày uống 5 g bột tam thất, uống 1 lần, chiêu với cháo loãng hoặc nước ấm.

- Phòng và chữa đau thắt ngực: Ngày uống 3-6 g bột tam thất (1 lần), chiêu với nước ấm.

- Chữa thấp tim: Ngày uống 3 g bột tam thất, chia 3 lần (cách nhau 6-8 giờ), chiêu với nước ấm. Dùng trong 30 ngày.

- Chữa các vết bầm tím do ứ máu (kể cả ứ máu trong mắt): Ngày uống 3 lần bột tam thất, mỗi lần từ 2-3 g, cách nhau 6-8 giờ, chiêu với nước ấm.

- Chữa đau thắt lưng: Bột tam thất và bột hồng nhân sâm lượng bằng nhau trộn đều, ngày uống 4 g, chia 2 lần (cách nhau 12 giờ), chiêu với nước ấm. Thuốc cũng có tác dụng bồi bổ sức khỏe cho người suy nhược thần kinh, phụ nữ sau sinh, người mới ốm dậy.

- Chữa bạch cầu cấp và mạn tính: Đương quy 15-30 g, xuyên khung 15-30 g, xích thược 15-20 g, hồng hoa 8-10 g, tam thất 6 g, sắc uống.

DS Trần Xuân Thuyết, Sức Khỏe & Đời Sống
15/02/2011 Đăng bởi Thanh Hai HM
3 trong số 4
Trả lời: Theo y học cổ truyền, tam thất là một vị thuốc có vị ngọt, hơi đắng, tính ấm, không độc, có công dụng tán ứ chỉ huyết (làm tan huyết ứ và cầm máu), tiêu thũng định thống (làm hết phù nề do ứ trệ và giảm đau), thường được dùng để chữa các chứng bệnh như xuất huyết, sưng nề tụ máu do trật đả, hung tý giảo thống (đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim), bế kinh do huyết ứ, thống kinh (hành kinh đau bụng), sản hậu phúc thống do ứ trở (đau bụng sau khi sinh con), sưng nề do viêm nhiễm...

Như vậy, có thể thấy về cơ bản tam thất là một vị thuốc trị bệnh với công năng chủ yếu là tán ứ, hoạt huyết, chỉ huyết. Tuy nhiên, các y thư cổ đều cho rằng, tam thất “năng khứ ứ sinh tân” hay “hoạt huyết nhi sinh huyết”, nghĩa là bản thân tam thất không phải là thuốc bổ huyết, nhưng trong các trường hợp khí huyết suy hư mà có ứ trệ thì công dụng hoạt huyết hóa ứ của nó cũng có ý nghĩa bổ huyết, sinh huyết một cách gián tiếp. Cũng có sách cho rằng tam thất “sinh dụng chỉ huyết tán ứ, tiêu thũng chỉ thống; thục dụng bổ huyết ích khí, tráng dương tán hàn” (dùng sống thì hoạt huyết cầm máu, giảm đau tiêu thũng; dùng chín thì bổ khí huyết, làm mạnh dương khí và trừ hàn). Kinh nghiệm dân gian thường hầm cách thủy tam thất với gà choai, cũng là nhằm mục đích lấy công năng hoạt huyết sinh huyết của tam thất, phối hợp với tác dụng bổ ích khí huyết của thịt gà để thu được hiệu quả bồi bổ khí huyết cao nhất. Với ý nghĩa đó, người ta còn coi tam thất bổ không kém gì sâm và gọi nó là Sâm tam thất hoặc Nhân sâm tam thất.

Trên thực tế, nếu thỉnh thoảng bạn dùng tam thất hấp với thịt nạc cho chồng và con trai ăn thì hoàn toàn không có hại, và chắc chắn cũng không sợ loãng tinh dịch như nhiều người nghĩ, vì kết quả nghiên cứu hiện đại đã cho thấy tam thất còn có tác dụng tương tự như nộâi tiết tố sinh dục, nên góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát dục của cơ thể, đúng như cổ nhân coi tam thất có công năng “tráng dương”. Tuy nhiên, nếu dùng thường xuyên thì e không ổn, nhất là lại dùng tam thất sống, vì không chắc cơ thể chồng và con bạn có bị hội chứng huyết ứ hay không? Vả lại, cổ nhân có câu “nam khí, nữ huyết”, nghĩa là nam giới nên trọng thuốc bổ khí, nữ giới nên trọng thuốc bổ huyết. Bởi vậy, khi dùng tam thất thường xuyên, tốt nhất chồng và con bạn nên đến khám và được tư vấn trực tiếp bởi thầy thuốc chuyên khoa.
15/02/2011 Đăng bởi dokakapro
4 trong số 4
cho e hỏi lá tam thất có chữa được mất ngủ không ạ?
30/09/2013 Đăng bởi Chưa đặt tên
Bạn cũng có thể quan tâm
câu tục ngữ nhất nước, nhì phân tam cần tứ giống có được áp dụng nữa không?
Help me!!!!!!! hãy giúp tôi tính lương!!!!!?
Thất nghiệp thì nên làm gì đây?!
Tính các góc của tam giác ABC biết:
Khi nào người láo động được hưởng lương mới đấu năm 2010?
Đăng nhập
Xem Giải Đáp ở: Di động | Cổ điển
©2014 Google - Chính sách bảo mật - Trợ giúp