Trang chủ > Câu hỏi
Câu hỏi
dầu mỏ được hình thành như thế nào ?
Khoa học xã hội 09/01/2011 Đăng bởi Chưa đặt tên
Câu trả lời
1 trong số 4
Có nhiều lý thuyết giải thích việc nguyên nhân hình thành các mỏ dầu

(1) Thuyết sinh vật học

Theo lý thuyết này, nó được tạo thành từ các vật liệu còn sót lại sau quá trình phân rã xác các động vật và tảo biển nhỏ thời tiền sử (các cây cối trên mặt đất thường có khuynh hướng hình thành than). Qua hàng thiên niên kỷ vật chất hữu cơ này trộn với bùn, và bị chôn sâu dưới các lớp trầm tích dày. Kết quả làm tăng nhiệt và áp suất khiến cho những thành phần này bị biến hoá, đầu tiên thành một loại vật liệu kiểu sáp được gọi là "du mẫu chất" (kerogen), và sau đó thoái hóa thành "thán thủy hóa hợp vật" (hydrocarbon) ở trạng thái khí và lỏng. Bởi vì thán thủy hóa hợp vật có mật độ nhỏ hơn đá xung quanh, chúng xâm nhập lên phía trên thông qua các lớp đá ngay sát đó cho tới khi chúng bị rơi vào bẫy bên dưới những tảng đá không thể ngấm qua, bên trong những lỗ xốp đá gọi là bể chứa. Sự tập trung thán thủy hóa hợp vật bên trong một bẫy hình thành nên một giếng dầu, từ đó dầu lỏng có thể được khai thác bằng cách khoan và bơm.

Các nhà địa chất cũng đề cập tới "cửa sổ dầu".. Đây là tầm nhiệt độ mà nếu thấp hơn thì dầu không thể hình thành, còn cao hơn thì lại hình thành khí tự nhiên. Dù nó tương thích với những độ sâu khác nhau ở những vị trí khác nhau trên thế giới, một độ sâu 'điển hình' cho cửa sổ dầu có thể là 4-6 km. Cần nhớ rằng dầu cũng có thể rơi vào các bẫy ở độ sâu thấp hơn, thậm chí nếu nó không được hình thành ở đó. Cần có ba điều kiện để hình thành nên bể dầu: có nhiều đá, mạch dẫn dầu xâm nhập, và một bẫy (kín) để tập trung thán thủy hóa hợp vật.

Các phản ứng tạo thành dầu mở và khí tự nhiên thường như những phản ứng phân rã giai đoạn đầu, khi du mẫu chất phân rã thành dầu và khí tự nhiên thông qua nhiều phản ứng song song, và dầu cuối cùng phân rã thành khí tự nhiên thông qua một loạt phản ứng khác.

(2) Thuyết vô cơ

Cuối thế kỷ 19 nhà hóa học người Nga Đi-mi-tri I-va-nô-vích Men-đê-lê-ép đã đưa ra lý thuyết vô cơ giải thích sự hình thành của dầu mỏ. Theo lý thuyết này dầu mỏ phát sinh từ phản ứng hóa học giữa "thán hóa vật" (Carbure) kim loại với nước tại nhiệt độ cao ở sâu trong lòng trái đất tạo thành các thán thủy hóa hợp vật và sau đó bị đẩy lên trên. Các vi sinh vật sống trong lòng đất qua hàng tỷ năm đã chuyển chúng thành các hỗn hợp thán thủy hóa hợp vật khác nhau. Lý thuyết này là một đề tài gây nhiều tranh cãi trong giới khoa học, tạo thành trường phái Nga - U-crai-na trong việc giải thích nguồn gốc dầu mỏ.

(3) Thuyết hạt nhân

Lý thuyết thứ ba, được giải thích trong nguyệt san "Người Mỹ khoa học" (Scientific American) vào năm 2003, cho rằng các hợp chất thán thủy hóa hợp vật được tạo ra bởi những phản ứng hạt nhân trong lòng Trái Đất.
09/01/2011 Đăng bởi Phong Hoa Tuyết Nguyệt
2 trong số 4
Vô đây mà tìm hiểu nè bạn!
09/01/2011 Đăng bởi anhquynhtrang
3 trong số 4
ket qua cua su phan giai cac chat huu co (cua dong vat,thuc vat chet hang loat boi thien thach,nui lua,...) duoi ap suat va nhiet do cao trong hang trieu nam thanh cac dang hidrocacbon phuc tap
26/02/2011 Đăng bởi tien si giuoc mam
4 trong số 4
Đây là vấn đề còn tranh cãi, nhưng ngày nay người ta tin rằng dầu mỏ và khí tự nhiên có nguồn gốc sinh vật.
   Thuyết nguồn gốc hữu cơ
Xác thực vật, động vật mà chủ yếu là các loại tảo phù du sống trong biển đã lắng đọng, tích tụ với các lớp đất đá trầm tích vô cơ xuống đáy biển từ hàng triệu năm về trước đã biến dần thành dầu mỏ, sau đó thành khí tự nhiên. Quá trình đó xảy ra theo ba giai đoạn: biến đổi sinh học bởi vi khuẩn, biến đổi hóa học dưới các điều kiện địa hóa thích hợp và sự di chuyển tích tụ của các sản phẩm trong vỏ trái đất.
Giai đoạn 1: Xác động thực vật bị phân hủy bởi các vi khuẩn ưa khí, sau đó bởi các vi sinh vật kị khí trong quá trình trầm lắng dần trong nước biển. Các albumin bị phân hủy nhanh nhất, các hydrat cacbon bị phân hủy chậm hơn. Các khí như nito NH3 CO2 CH4 .. hòa tan trong nước rồi thoát ra ngoài, phần chất hưu cơ còn lại bị chôn vùi trong lớp đất đá trầm tích. Không gian ở đó xảy ra quá trình phân hủy sinh hoc gọi là vùng vi khuẩn.
Giai đoạn 2: Vật liệu hữu cơ còn lại, chủ yếu là các chất lipid, nhựa, sáp, axit béo tham gia các phản ứng hóa học dưới tác dụng của các chất xúc tác vô cơ trong đất đá ở điều kiện áp suất lớn. Quá trình biến đổi đó xảy ra vô cùng chậm, càng xuống sâu càng chậm theo chiều hướng:
   Hợp chất phức tạp sinh vật ----------------> hợp chất hữu cơ đơn giản hơn
   Hợp chất thơm phức tạp     ----------------> hợp chất thơm đơn giản hơn hydrocacbon đơn giản naphten, parafin
   Hydrocacbon phân tử lượng lớn ---------> hydrocacbon phân tử lượng bé
phản ướng chủ yếu trong giai đoạn này là phản ứng cracking, trong đó mạch cacbon bị đứt gãy dần. Kết quả là các chất hữu cơ đơn giản hơn, chủ yếu là hydrocacbon sinh ra càng nhiều.
14/04/2012 Đăng bởi Nguồn gốc hình thanh dầu mỏ
Bạn cũng có thể quan tâm
Nước ta có bao nhiêu mỏ khai thác dầu thô ở ngoài Biển Đông ?
Dành ăn nhau trên mỏ dầu mà nhân danh dân chủ là kiểu gì?
Chiến tranh Libi dầu mỏ là nguyên nhân, Liên hiệp quốc bù nhìn,Mĩ giật dây có đúng không?
Nguyên tắc hoạt động của mỏ neo?
Mỏ nước hiểu được tiếng người, các bạn nghe chưa? cách giải thích của các bạn?
Đăng nhập
Xem Giải Đáp ở: Di động | Cổ điển
©2014 Google - Chính sách bảo mật - Trợ giúp