Trang chủ > Câu hỏi
Câu hỏi
Tình trạng sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp ?
Tình trạng sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp là không thể làm việc ngay và phải đào tạo lại vậy giải pháp của vấn đề trên là gì?
Tình trạng sinh viên tốt nghiệp xong làm trái nghề cũng rất phổ biến như vậy có phải đang lãng phí
Du học | Thi cử 25/02/2011 Đăng bởi Save Quang
Câu trả lời
1 trong số 2
1. Tình trạng sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp là không thể làm việc ngay và phải đào tạo lại vậy giải pháp của vấn đề trên là gì?
--> Vấn đề đào tạo của VN còn rất nan giải, sinh viên sau khi ra trường thường không thể làm việc được ngay, theo mình nguyên nhân nằm ở 2 điểm chính:
- Cách đào tạo: Cách cho sinh viên tiếp cận kiến thức còn quá máy móc, chỉ tập trung vào lý thuyết suông, thực hành thì ít, nếu có cũng chỉ là hời hợt
- Cách học của sinh viên: Cách dậy cũng một phần dẫn đến cách học của sinh viên. SV cũng thường học theo cách " học đối phó" chứ chưa thực sự học theo ý nghĩa là " nghiên cứu". Cách dạy và học không khác gì học sinh cấp 3. Thầy giáo vẫn đọc và sinh viên vẫn chép bài. Khi làm bài kiểm tra thì cứ chép y như thầy đọc là được. Như thế làm sao phát huy được sự sáng tạo, tìm tòi ....

==> Làm gì: Cần phải thay đổi các dạy và cách học, thay đổi  lối tư duy---> Cái này thì bàn quá nhiều trên các phương tiện truyền thông rồi, giờ chờ xem sẽ thay đổi được ntn thôi

2. Tình trạng sinh viên tốt nghiệp xong làm trái nghề cũng rất phổ biến như vậy có phải đang lãng phí
--> Sinh viên ra trường làm trái nghề là rất phổ biến hiện nay, một phần cũng do thị trường lao động. Có những SV được đào tạo tốt, được trang bị hàng trang tốt nhưng lại ko có cơ hội tìm được việc
Như những sinh viên các ngành như xã hội thì ra trường chủ yếu vào các cơ quan nhà nước, mà vào cơ quan nhà nước bây giờ thì bạn biết rồi--> Phải có quen biết và có " Bác hồ" dẫn đường chỉ lối. Rõ ràng là rất nhiều SV ko thể có cơ hội xin vào làm nhà nước, họ đành phải tìm các công việc trái ngành, làm những công việc mà chẳng liên quan gì đến cái mình đã học cả...
 Nếu có cuộc khảo sát thì chắc số lượng sinh viên làm trái ngành không phải là nhỏ --> Đúng là đào tạo hiện nay đang bị "lãng phí" rất nhiều
25/02/2011 Đăng bởi Thư giãn
2 trong số 2
Hai bài viết sau sẽ trả lời cho câu hỏi trên:

1. Lối ra nào cho tình trạng “thừa thầy thiếu thợ”?
Bài viết “Vì đâu áp lực vào Đại học luôn đè nặng?” của tác giả Bùi Minh Tuấn đã đề cập một vấn đề nhức nhối của xã hội ta hiện nay đó là áp lực nặng nề trong các kì thi tuyển sinh ĐH gây nên nhiều điều bức xúc.

Lý giải nguyên nhân của tình trạng trên, tác giả Bùi Minh Tuấn cho rằng do tâm lý khoa bảng, sính bằng cấp của người dân bắt nguồn từ cơ chế tuyển dụng, đề bạt cán bộ, tuyệt đối hóa vai trò của bằng cấp, do sức ép của gia đình… Do đó, muốn giải quyết dứt điểm tình trạng này thì giải pháp quan trọng nhất là cần thay đổi cơ chế  tuyển dụng, đề bạt công chức, không quá lệ thuộc vào bằng cấp, đồng thời các gia đình cần nhìn nhận đúng thực lực của con em mình, không nên ép uổng các em thi vào ĐH khi không có đủ khả năng mà nên hướng các em vào các trường đào tạo nghề sẽ phù hợp hơn.

Trước hết xin trao đổi cùng tác giả Bùi Minh Tuấn rằng, tâm lý khoa bảng, sính bằng cấp của người dân là có thật, và là một mong muốn chính đáng cần tôn trọng. Mặt khác, đây không chỉ là tâm lý riêng của người Việt Nam. Hầu như mọi HS trên thế giới đều muốn bước chân vào cổng trường ĐH, đều muốn có một nghề nghiệp tương đối nhàn hạ lại có thu nhập cao, danh giá, có thể dùng trí tuệ để thăng tiến và cống hiến cho xã hội.

Chỉ khi nào không có lựa chọn nào khác, người ta mới đi vào làm các nghề lao động kĩ thuật, phổ thông vất vả và thu nhập thấp hơn. Cho nên để thay đổi tâm lý này là điều hết sức khó khăn, có quá trình chuyển biến rất chậm, và không bao giờ có kết quả triệt để, thậm chí là không cần thiết. Áp lực thi vào các trường ĐH xét một góc độ khác cũng có tác dụng thúc đẩy sự nỗ lực học tập của HS.                                                                      

Tác giả Bùi Minh Tuấn còn cho rằng nguyên nhân quan trọng nhất là do cơ chế tuyển dụng, đề bạt cán bộ của chúng ta hiện nay quá trọng bằng cấp, tuyệt đối hóa vai trò của bằng cấp mà chưa chú trọng đến năng lực thực sự nên mới tạo ra cảnh người ta phải cố tìm mọi cách để có được tấm bằng. Xin hỏi tác giả Bùi Minh Tuấn, nếu tuyển dụng, đề bạt cán bộ không dựa vào bằng cấp thì dựa vào cái gì?                        

Bằng cấp là chứng chỉ xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về sự hoàn thành một trình độ đào tạo của cá nhân. Ngay cả các nước tiên tiến trên thế giới và các công ty liên doanh nước ngoài ở Việt Nam đều yêu cầu những người xin việc có những bằng cấp nhất định. Xin hỏi đã có tổ chức, công ty, doanh nghiệp nào “thoáng” đến mức tuyển dụng mà không yêu cầu bằng cấp chưa? Dĩ nhiên, để đảm bảo tuyển dụng, đề bạt đúng, ngoài tiêu chuẩn là bằng cấp ra, cần kết hợp các hình thức khác để kiểm tra thực lực của ứng viên như phỏng vấn, phản biện, trình bày đồ án, thử việc…Đồng thời, tạo ra môi trường cạnh tranh trong quá trình làm việc để  “thanh lọc” những người không có đủ năng lực và tiếp tục tuyển dụng những người đủ khả năng thay thế. Đây là mô hình tuyển dụng, quản lý đã được nhiều nước áp dụng và cho thấy hiệu quả thiết thực.

Cho nên, vấn đề không phải là không tiếp tục tuyển dụng dựa vào bằng cấp, mà quan trọng nhất là làm sao những người có bằng cấp ấy có năng lực thực sự tương xứng. Nghĩa là cần “nâng chất của tấm bằng “thật” bằng các giải pháp như xiết chặt đầu vào, chặt chẽ, nghiêm túc, sàng lọc mạnh mẽ trong đào tạo, tăng cường năng lực thực hành…; đồng thời triệt để xóa bỏ nạn bằng “giả” (hay “bằng thật chất lượng giả”).

Từ góc độ nhà quản lý, xin có một so sánh nôm na như thế này: HS tốt nghiệp THPT đứng trước hai cánh cửa mở ra hai con đường: thi vào ĐH và con đường học nghề, lao động kĩ thuật. Nếu hai cánh cửa ấy đều mở  rộng như nhau, dĩ nhiên đa số HS sẽ chọn “cánh cửa vào ĐH”. Vì vậy, muốn “phân luồng” hiệu quả chỉ có một cách duy nhất là “khép bớt cánh cửa ĐH” và “rộng mở cánh cửa học nghề, lao động kĩ thuật”.

Việc “khép bớt cánh cửa ĐH” không phải là hạn chế cơ hội học tập của HS mà là cách duy nhất để lựa chọn những HS xứng đáng, có khả năng thực sự để theo học được ĐH và học lên bậc cao hơn, và là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục ĐH. Một khi quan niệm “không giỏi không có chỗ trong giảng đường ĐH” được xác lập, thì những HS năng lực trung bình sẽ lựa chọn đi vào “cửa” khác.

Việc “khép, mở” (điều hành) của các cấp quản lý phải dựa trên những kết quả khảo sát điều tra cụ thể về nhu cầu nhân lực, trình độ, dự báo sự thay đổi về nhu cầu nhân lực, việc làm trong một thời gian nhất định để đảm bảo không gây ra sự mất thăng bằng cán cân lao động. Đồng thời, phải có những cơ chế, chính sách đồng bộ để “mở rộng cánh cửa hướng nghiệp”: đầu tư, nâng cấp các trường, trung tâm, đào tạo nghề, chính sách ưu đãi đào tạo, có chính sách tìm kiếm, giới thiệu việc làm, bảo đảm thu nhập, an sinh xã hội, nhu cầu thăng tiến cho những học sinh tốt nghiệp các trường, trung tâm đào tạo nghề.            

Nếu những sinh viên, học viên các trường, trung tâm đào tạo nghề ra trường có trình độ tay nghề đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, có việc làm ổn định, có thu nhập cao, đời sống đảm bảo, có tương lai…thì sẽ tạo nên một “sức hút” mạnh mẽ, giảm bớt áp lực thi vào các trường ĐH. Những học sinh năng lực trung bình trở xuống sẽ không dại gì cố chen vào các trường ĐH vừa khó vào, khó trụ lại, khi ra trường cũng ít có cơ hội tìm kiếm việc làm (do không đủ năng lực để được tuyển dụng và làm việc) trong khi đi vào con đường đào tạo nghề sẽ phù hợp và có nhiều thuận lợi hơn.

Thực tế nhiều nước cho thấy cách quản lý như trên đã tạo ra hiệu quả tốt. Nước Đức có số HS vào ĐH ngày càng giảm do họ có một hệ thống dạy nghề tốt nhất thế giới, và dĩ nhiên là đời sống của đội ngũ công nhân kĩ thuật được đảm bảo rất tốt. Ở nước Pháp, học sinh trung học có thể lựa chọn 300 ngành nghề khác nhau để học, và trong quá trình học vừa làm hợp đồng, có lương, được đảm bảo các quyền lợi về bảo hiểm y tế, tai nạn lao động. Ở nhiều nước, sự phối hợp giữa “nhà nước- nhà trường-nhà tuyển dụng lao động”(doanh nghiệp) được đảm bảo rất tốt.

Còn nếu chúng ta vẫn giữ nguyên cung cách quản lý như hiện nay thì tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” sẽ ngày càng thêm trầm trọng. “Trong 10 năm qua, số trường đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) được thành lập tại Việt Nam bằng số trường của 50 năm trước đó. Số sinh viên và giảng viên cũng tăng gấp đôi, nhưng số giảng viên có trình độ tiến sĩ lại giảm” (Báo Đại đoàn kết online ngày 5/9/2008). Ngoài ra, các lớp tại chức, từ xa, liên kết, hệ mở…liên tục được mở ra với số lượng tuyển sinh khổng lồ.                                                        

Tất cả khiến cho “cánh cửa vào ĐH” được mở rộng hơn bao giờ hết và dĩ nhiên là chất lượng đào tạo sẽ tỷ lệ nghịch so với số lượng tuyển sinh. Những người đã có tấm bằng ĐH trong tay (dù không thực chất) sẽ tìm mọi cách để được tuyển dụng, đi làm ở một vị trí tương xứng với bằng cấp, và những tiêu cực, rắc rối, bức xúc cũng bắt nguồn từ đấy.    

Trong khi đó, “cánh cửa vào đào tạo nghề” tuy cũng được mở rộng hơn, song chưa thật hấp dẫn, chưa thể là một “đối trọng” của con đường đi lên ĐH: cơ sở vật chất, điều kiện đào tạo còn thiếu thốn, cơ hội tìm kiếm việc làm chưa cao, thu nhập còn chưa tương xứng, điều kiện an sinh xã hội cho người lao động kĩ thuật, lao động phổ thông chưa đảm bảo, cơ hội thăng tiến chưa nhiều, khả năng ổn định nghề nghiệp thấp…  

Vì vậy, việc giải bài toán “thừa thầy thiếu thợ” cần có những giải pháp tổng hợp, đồng bộ, mạnh mẽ của Chính phủ, Bộ GD-ĐT. Hướng đi “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn và không theo nhu cầu xã hội” là đúng đắn, song xã hội đang trông chờ những giải pháp cụ thể, kịp thời của bộ chủ quản. Việc giải bài toán này sẽ tạo ra nhiều hệ quả tích cực: nâng cao chất lượng giáo dục ĐH và đào tạo nghề, tạo sự cân đối trong cán cân lao động, chống lãng phí trong đầu tư cho giáo dục của nhà nước và người dân, nâng cao đời sống cho người lao động, giảm bớt những tiêu cực trong tuyển dụng, đề bạt công chức… thúc đẩy nền kinh tế-xã hội phát triển. Đó là mong mỏi thiết tha của những người làm giáo dục và của toàn xã hội.    

Trần Quang Đại
(Giáo viên trường THPT Trần Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh)

LTS Dân trí - Chuyện học sinh đổ xô đi thi đại học cũng như tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” là hệ quả tất yếu của những sai lầm trong định hướng đào tạo không theo sát nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cho nên đội ngũ lao động được đào tạo ra vừa mất cân đối về cơ cấu trình độ - thừa thầy thiếu thợ - cũng như cơ cấu ngành nghề. Điều đó dẫn tới tình trạng vừa thừa vừa thiếu những người lao động đáp ứng đúng những yêu cầu cần thiết. Nhiều người tốt nghiệp các trường chính quy ra vẫn không kiếm được việc làm trong khi nhiều doanh nghiệp không tìm đâu ra những người mình cần tuyển dụng.

Tình trạng nói trên suy cho cùng chính là do công tác quản lý của ngành giáo dục - đào tạo chưa phát huy hiệu quả trong việc lập quy hoạch, kế hoạch đào tạo dựa trên dự báo về nhu cầu lực lượng lao động (số lượng, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ) của mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, đã cho phép mở ra quá nhiều trường đại học, cao đẳng trong khi chưa quan tâm đúng mức đến việc phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo của hệ thống  trường các trường kỹ thuật và dạy nghề.

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

1. Cần đổi mới cách giảng dạy ở đại học
Hiện nay đang tồn tại một nghịch lý giữa các bậc học: trong khi các trường phổ thông đã biết quan tâm đổi mới phương pháp giảng dạy thì hầu như đại học vẫn chưa quan tâm tới điều này.

Đoàn khảo sát thực địa thuộc Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ năm 2006 có phần nhận xét về phương pháp dạy và học đại học của Việt Nam như sau:

- Phương pháp giảng dạy không hiệu quả, quá phụ thuộc vào các bài thuyết trình và ít sử dụng các kỹ năng học tích cực, kết quả là có ít sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên trong và ngoài lớp học.

- Quá nhấn mạnh vào ghi nhớ kiến thức theo kiểu thuộc lòng mà không nhấn mạnh vào việc học khái niệm hoặc học ở cấp độ cao (như phân tích và tổng hợp), dẫn đến hậu quả là học hời hợt thay vì học chuyên sâu.

- Sinh viên học một cách thụ động (nghe diễn thuyết, ghi chép, nhớ lại những thông tin đã học thuộc lòng khi làm bài thi).

Tình hình yếu kém nói trên của giáo dục đại học vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

Giảng dạy đại học phổ biến nhất vẫn là sử dụng bảng viết phấn với cỡ lớn, hoặc nếu sử dụng máy tính sẽ là các slide đầy chữ trình chiếu để sinh viên ghi chép lại. Một thực tế là các trường phổ thông hiện nay đang phát động rầm rộ phong trào đổi mới phương pháp giảng dạy, còn các trường đại học vẫn “án binh bất động”. Do vậy phương pháp dạy ở các trường đại học của ta hiện nay vẫn giống như cách dạy các trường “phổ thông cấp 4” (!). Sinh viên đại học chỉ là những “thợ chép”:  Thầy nói gì, viết gì trên bảng thì cứ việc cặm cụi chép bằng hết vào cuốn vở trở thành cẩm nang duy nhất cho thi cử và thậm chí cả cho việc hành nghề sau này. Dĩ nhiên học thụ động sẽ sản sinh ra những nhà “trí thức” thụ động, chỉ đâu đánh đấy cũng chưa xong chứ nói gì đến nghiên cứu, sáng tạo.

Khi thi giảng viên chính ở đại học, các giảng viên phải nghiên cứu phương pháp giảng dạy mới, nhưng khi xét chức danh giáo sư hay phó giáo sư lại chủ yếu xét các công trình khoa học và ngoại ngữ... mà không có yêu cầu giáo sư, phó giáo sư (GS/PGS) phải dạy như thế nào. Càng lên cao, càng có học vị học hàm cao thì càng được “ưu tiên” không phải áp dụng phương pháp dạy học mới, không phải lo nghĩ đổi mới phương pháp giảng dạy!. Đây là một nghịch lý!. Suy cho cùng chức danh GS/PGS do Nhà nước phong tặng phải là cái đích cho giảng viên phấn đấu nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bậc đại học. Do đó không thể chỉ khuyến khích các GS/PGS phải có nhiều bài báo khoa học đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế nhưng khi lên lớp, các GS/PGS lại tùy tiện dùng phương pháp “đọc-chép” nhồi nhét kiến thức cho sinh viên như hiện nay.

Vậy đâu là nguyên nhân?

Đa số các trường đại học ở Việt Nam đều giao nhiệm vụ nghiên cứu/nâng cao năng lực dạy và học của nhà trường cho khoa sư phạm (nếu có) hoặc đơn vị chuyên trách công tác đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, trong khi các khoa sư phạm tập trung vào giáo dục phổ thông thì các đơn vị đảm bảo chất lượng thường chịu trách nhiệm chủ yếu về hoạt động kiểm định và khảo thí.

Ngày 02/01/2009, Bộ GD-ĐT có văn bản gửi các trường đại học, cao đẳng, học viện thông báo sẽ tổ chức hội thảo toàn quốc về đổi mới phương pháp giảng dạy đại học (dự kiến tháng 3/2009) để nâng cao chất lượng đào tạo, tạo sự hứng thú, say mê cho người dạy và người học bậc đại học. Nhưng cho đến nay thông báo này vẫn nằm trong ngăn kéo chưa được thực hiện!

Trong bối cảnh công nghệ dạy học ngày càng có nhiều ứng dụng mới và lý luận/phương pháp giảng dạy đại học không ngừng phát triển thì việc xây dựng các đơn vị chuyên trách đổi mới phương pháp giảng dạy là rất cần thiết nhằm hỗ trợ giảng viên đổi mới phương pháp giảng dạy có hiệu quả. Lâu nay chúng ta hay kêu gọi giảng viên đại học đổi mới phương pháp giảng dạy, nhưng thực tế nhiều giảng viên không biết phải đổi mới như thế nào, đơn vị nào trong trường có thể giúp đỡ hay hỗ trợ họ trong việc đổi mới?

Các trường đại học hiện nay đang tập trung đầu tư cho các giảng viên công bố các bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế, xem đây như là một tiêu chí khẳng định đẳng cấp của trường đại học, nhưng rất xem thường các công trình khoa học về đổi mới phương pháp giảng dạy trên tạp chí trong nước. Họ cho rằng nghiên cứu phương pháp giảng dạy là công việc của trường phổ thông, thậm chí có giảng viên được nhà nước công nhận PGS về phương pháp giảng dạy đại học nhưng trường chủ quản không đề nghị bổ nhiệm, lý do: trường không có nhu cầu sử dụng?. Với những nhận thức và hành động như vậy, giáo dục đại học Việt Nam sẽ tiến về đâu?

Ngô Tứ Thành
Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông

LTS Dân trí - Bài viết trên của một cán bộ giảng dạy đại học cho thấy một “nghịch lý” rất đáng quan tâm về cách dạy và học rất thụ động ở bậc đại học. Nhiều năm qua, phương pháp giảng dạy đại học hầu như không được đổi mới, vẫn là cách dạy thụ động của nhiều năm trước, cho nên không bảo đảm yêu cầu của chất lượng đào tạo.

Muốn nâng cao chất lượng giáo dục đại học thì đi đôi với việc hiện đại hóa chương trình, giáo trình cũng như phương tiện đào tạo, còn cần có đội ngũ giảng viên vừa có trình độ chuyên môn vững vàng vừa nắm vững phương pháp giảng dạy tích cực, giúp cho sinh viên hào hứng chủ động và sáng tạo trong học tập. Điều đó đòi hỏi các trường đại học phải quan tâm nhiều hơn việc khuyến khích những đề tài nghiên cứu đổi mới phương pháp giảng dạy; khi bổ nhiệm chức danh GS và PGS cũng nên xem xét cả tiêu chuẩn về phương pháp giảng dạy và kết quả thực tế đạt được trong công tác giảng dạy ở bậc đại học.
Dantri
25/02/2011 Đăng bởi haihaua.tk
Bạn cũng có thể quan tâm
học ngành Qtkd,ai có việc tìm giúp tôi với? tình trạng lonely thất nghiệp
sinh viên mới ra trường thất nghiệp bao lâu?
hiện tượng sinh viên sau khi tốt nghiệp có xu hướng ở lại thành phố
Lương của thực tập sinh như thế nào?
Vì sao công ty có thể chấp nhận chia 60% cho doanh nghiệp?
Đăng nhập
Xem Giải Đáp ở: Di động | Cổ điển
©2014 Google - Chính sách bảo mật - Trợ giúp