Trang chủ > Câu hỏi
Câu hỏi
làm sao để giọng trong?
trong trẻo....^^!
giọng 05/07/2011 Đăng bởi White Rose
Câu trả lời
1 trong số 9
Chịu khó hót để luyện giọng bạn à.
05/07/2011 Đăng bởi ♥Black Rose™♥
2 trong số 9
Dùng nước tẩy rửa là trong vắt ngay í mà :))
05/07/2011 Đăng bởi con chuot
3 trong số 9
nếu em ở Hải Dương thì Rg bày cách cho ^^
05/07/2011 Đăng bởi tentoilarg
4 trong số 9
chịu khó úp mặt vào chum mà hét
05/07/2011 Đăng bởi dongsongmuaha
5 trong số 9
@Rg: Hải Dương thì seo
05/07/2011 Đăng bởi con chuot
6 trong số 9
Ăn chanh bạn nhé!
05/07/2011 Đăng bởi Ms. Còi
7 trong số 9
Luyện ca cho khỏe vào
06/07/2011 Đăng bởi rungcoxanh
8 trong số 9
Tặng Rosie bài này đọc đã ghiền lun :))



LUYỆN THANH, LUYỆN GIỌNG TRONG THUYẾT TRÌNH VÀ TRONG KHI HÁT

Tìm hiểu về giọng
Giọng nói là một cơ quan phức tạp, có một tầm phát âm thật rộng lớn. Nhiều ca sĩ
không qua trường lớp vẫn có một giọng ca tự nhi ên tuyệt vời. Tuy nhiên những ca sĩ
có kiến thức về cách phát âm v à hiểu rõ bộ máy này còn gặt hái những kết quả tốt
hơn. Sau nhiều năm ca hát, bạn có thể phát triển v à duy trì thanh gi ọng, học cách
phòng tránh và sửa chữa những khó khăn của m ình.
Phương pháp luyện giọng của Anne Peckham sẽ giúp chăm sóc v à nâng cấp chất
lượng giọng hát của bạn l ên mức độ cao hơn, giúp bạn hiểu rõ những yếu tố cơ bản
của bộ máy phát âm, hỗ trợ bạn nắm vững kỹ thuật tập luyện, phân biệt đ ược từng
thành phần giọng ca. Nó cũng giúp bạn nắm vững chúng v à mở rộng ưu thế từng chi
tiết để giúp bạn đạt th ành một giọng ca hoàn chỉnh.
Qua kinh nghiệm dạy thanh nhạc nhiều năm, Anne Peckham đ ã từng gặp những
chuyện hoang đường về luyện giọng. Một trong những chuyện hoang đ ường ấy là ca
sĩ hát nhạc phổ thông không qua tr ường lớp. Nhiều ca sĩ trẻ đ ã ngạc nhiên thấy rằng
không ít ca sĩ không luyện giọng đã phải sớm rời bỏ sự nghiệp sau một thời gian
ngắn, chỉ vì bộ máy phát âm của họ bị th ương tổn. Ngay cả những ca sĩ d ày dạn, có
những thói quen không đúng, đôi khi cũng phải tập hát trở lại v ì không muốn bộ máy
phát âm của họ bị hư hỏng vĩnh viễn.
Các thể loại âm nhạc như Pop, Rock, Thánh ca, Country và ca k ịch đòi hỏi phải hát
lớn trong một thời gian d ài sẽ làm cho giọng ca mệt mỏi. Bạn sẽ gặp th êm vấn đề
nếu địa điểm trình diễn khô khan, bụi bặm, đầy khói v à trong một đám đông náo
nhiệt.
Nếu hiểu rõ giọng mình, bạn sẽ phát triển và kiểm soát cách thở đúng, x ướng âm
đúng cách và cải tiến giọng ca qua việc nâng cao thể lực v à âm lực. Bạn sẽ được
hướng dẫn phương pháp làm giảm thiểu độ căng của âm giọng, hiểu r õ môi trường
xung quanh ảnh hưởng thế nào tới giọng ca của mình. Hiểu rõ giọng ca sẽ giúp bạn
loại bỏ thói quen phát âm sai.
Giọng ca chịu tác dụng của cảm xúc, thới quen ăn uống, ngủ ngh ê, sử dụng dược
phẩm, chất kích thích và thói quen nói năng. Gi ọng ca còn tuỳ thuộc vào thể lực và
sinh lực của bạn. Học cách chăm sóc giọng ca v à phát triển thói quen luyện tập tốt
sẽ giúp bạn bảo toàn giọng ca suốt đời.
Một câu chuyện khác nữa l à do thiếu luyện giọng, nhiều ca sĩ đ ã đánh mất chất giọng
độc đáo, tự nhiên của mình. Ngược lại luyện giọng sẽ giúp bạn giữ vững bộ máy phát
âm và nâng chất giọng tự nhiên của bạn lên tới mức tốt nhất. Làm chủ được giọng ca
tự nhiên của chính mình hay nhất. Sự chủ động này còn giúp bạn hiểu rõ những khu
vực cần cải tiến, những thới quen có hại cho sự lâu bền c ủa giọng mình. Thật vậy,
nhiều ca sĩ pop chuyên nghiệp đã thành đạt theo cách phát triển v à bảo quản được
giọng ca của họ. Những b ài học này chẳng những không l àm bạn đánh mất chất
giọng độc đáo của mình mà còn giúp bạn nắm vững cách điều khiển v à nâng cao nó.
Phương pháp phát âm nào là t ốt nhất? Mọi ca sĩ giải thích quy tr ình phức tạp hát ca
theo một cách khác nhau, sử dụng những thuật ngữ ri êng và nói nhiều đến các thành
phần cơ thể cũng nhưng các khái niệm sư phạm. Phương pháp thanh nh ạc tốt nhất là
phương pháp thực tiễn, thích hợp, có c ơ sở khoa học, sử dụng những b ài tập có mục
đích rõ ràng và phù hợp với ca sĩ.
Đừng qua lo ngại bởi các chi tiết kỹ thuật khi học hát. Những kiến thức về c ơ thể học
và về âm học sẽ giúp bạn trở th ành một ca sĩ tài ba, biết vận dụng tối đa giọng ca tự
nhiên của mình.
Lấy hơi trộm là khi đuối hơi là ca sĩ tự động lấy hơi (mặc dù trong bản nhạc không
cho phép) nhằm đáp ứng được câu hát. Bạn có thể lấy h ơi thật nhanh cả bằng mũi
và mồm, nhưng vẫn phải đảm bảo thời gian, đúng n hịp để vào câu hát tiếp theo.
Theo tôi bạn nên chuẩn bị trước khi lấy hơi sẽ chủ động hơn. Tuy nhiên đây ch ỉ là
biện pháp bất đắc dĩ, các bạn n ên lấy hơi đúng chỗ, đúng lúc.
Một điều các bạn cần chú ý khi hát chỉ n ên lấy hơi bằng mũi thì sẽ lấy hơi được sâu,
tuyệt đối tránh lấy hơi bằng miệng sẽ không tốt cho cổ họng, hát xong n ên uống 1
cốc nước nóng, tuyệt đối không được uống nước lạnh vì như thế sẽ làm co rút dây
thanh quản, khá nguy hiểm.

Luyện thanh
Các yếu tố ngữ âm trong âm tiết tiếng Việt I.
Như đã biết, học thanh nhạc, ngoài việc tập luyện một số kỹ thuật cơ bản, còn phải học
cách xử lý ngôn ngữ sao cho âm thanh lời ca phát ra nghe đ ược rõ ràng và bảo toàn tính
thẩm mỹ của ngôn ngữ từng dân tộc. Muốn xử lý ngôn ngữ Việt Nam, trước hết chúng ta
phải biết sơ lược về các yếu tố ngữ âm cấu tạo n ên từng tiếng, từng chữ (từng âm tiết) của
ngôn ngữ Việt Nam.
1. Tiếng Việt Nam là một ngôn ngữđơn vận (đơn âm, đơn lập) nhưng lại đa thanh.
a. Đơn vận :
Là mỗi tiếng, mỗi chữ chỉ gồm có một vần, n ên khi nói rời từng tiếng, khi viết rời từng
chữ, các vần các chữ không dính kết lại với nhau nh ư một số ngôn ngữ khác. Câu thơ lục
bát của Nguyễn Du :
"Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau"
(Truyện Kiều)
Gồm 14 vần, 14 âm tiết, viết và đọc tách bạch nhau, không dính kết lại với nhau.
b. Đa thanh :
Là nhiều thanh điệu, nhiều dấu giọng. Cụ thể l à có 6 thanh điệu, được ghi bằng 5 ký hiệu
khác nhau : dấu sắc (Á), dầu huyền (À), dầu hỏi (Ả), dầu ngã (Ã ), dấu nặng (Ạ). (Gọi tắt
là 5 dấu 6 giọng). Không có dấu gọi là thanh-điệu "ngang".
2. Mỗi tiếng (mỗi âm tiết) có 3 yếu tố l à âm đầu, vần và thanh điệu.
Thí dụ trong chữ TOÀN
T là âm đầu
OAN là vần
Ø là thanh huyền
(3 yếu tố này được thấy rõ, chẳng hạn trong lối nói lái của Việt Nam :
Thí dụ :
- Bí mật : - Bật mí : đối vần, đổi thanh
- Bị mất : đối thanh
- Mất bị : đối âm đầu + đối vần ...).
Trong 3 yếu tố đó, thì VẦN lại gồm 3 yếu tố khác : âm đệâm + âm chính + âm cuối.
Trong vần OAN, O là âm đệm, A là âm chính, N là âm cuối.
Vậy trong một âm tiết gồm tất cả 5 yếu tố :
- Âm đầu
- Âm đệm
- Âm chính
- Âm cuối
- Thanh điệu (là yếu tố ảnh hưởng lên toàn âm tiết)
Ta có sơ đồ các yếu tố của âm tiết nh ư sau :
Thanh điệu (5)
Âm đầu Vần
(1) Âm đệm
(2) Âm chính
(3) Âm cuối
3. Ví trị âm đầu do các phụ âm đảm nhận, gọi là các phụ âm đầu
a. Đặc tính của các phụ âm là tự nó không phát ra âm thanh lớn đ ược, mà cần kèm theo
một nguyên âm, thì nó mới phát thành tiếng rõ ràng được. Khi đọc các phụ âm, làn hơi
phải vượt qua một vật cản nào đó do tác động của môi lưỡi phối hợp, rồi mới đi ra ngo ài
theo đường miệng. Muốn đọc rõ các phụ âm thì phải cấu âm cho đúng cách, bằng cách
tạo các điểm cản làn hơi bằng môi hay lưỡi (hình 8, 9, 10).
b. Các phụ âm đầu Việt Nam gồm : B, C, CH, D, Đ, G (GH), GI, H, (K), KH, L, M, N,
NH, NG (NGH), PH, Q (U), R, S, T, TH, TR, V, X.
Nếu phận loại dựa theo cách cấu âm, ta sẽ có 5 loại chính :
* Phụ âm môi :
- môi + môi : m - b ; (p) : bình minh
- môi + răng : v - ph (f) : vi phạm
* Phụ âm đầu lưỡi :
- đầu lưỡi + răng trên : t - th : tinh thần
- đầu lưỡi + hàm răng khít : x : xinh xắn
- đầu lưỡi + chân răng-vòm cứng: n - đ - l : nó đẹp lắm
- đầu lưỡi cong + vòm cứng : (l) - r - tr - s : rộn ràng, trong sáng
- đầu lưỡi rung + vòm cứng : r (r rung hơi khác với r mềm ở hàng trên) : run rẩy, rung
rinh
- đầu lưỡi bẹt + vòm cứng : d - gi : dòng giống
* Phụ âm mặt lưỡi :
-mặt lưỡi + vòm miệng : ch - nh : chi nhánh
* Phụ âm cuống lưỡi :
- cuống lưỡi ngoài + vòm mềm : kh - g (gh) : khiêng gánh
- cuống lưỡi trong + vòm mềm : ng (ngh) - c (k,q) : ngông cuồng, nguy kịch quá
• Phụ âm thanh hầu :- cuống lưỡi thụt về phía sau để thu hẹp thanh hầu : h : hầu hạ.
Lưu ý :
- âm l có thể cấu âm ở cả 2 vị trí. Đối với người thường đọc lộn l ra n, và n ra l thì nên
dùng l cong lưỡi để tập luyện. Không nên cong lưỡi quá, sẽ không tự nhiên.
- âm r mềm ở hàng trên đọc gần giống như chữ j trong tiếng Pháp. Còn r rung thường gặp
ở miền Trung, chỉ nên dùng để đọc các chữ diễn tả sự rung động nh ư : rung rinh, run rẩy,
run run ... và để đọc các chữ r của tiếng La-tinh như Ma-ri-a, Ro-sa ...
c. Có một số âm tiết không có phụ âm đầu nh ư ăn, uống, an ủi ... còn đa số các âm tiết
đều có phụ âm đầu. Muốn cho r õ tiếng, cần tập : "bật môi, đánh lưỡi" cho đúng cách. Vai
trò của lưỡi quan trọng nên người ta khuyên nên "đánh lưỡi bảy lần trước khi nói" là vậy.
4.Vần lại gồm 3 yếu tố khác : âm đệm + âm chính + âm cuối
a. Âm đệm :
Được ghi bằng bán âm u hoặc o. Đây l à âm làm tròn môi trước khi đọc âm chính,
làm cho âm tiết có âm sắc trầm tối (gọi l à bán âm, vì mặt chữ thì giống như
nguyên âm, nhưng công dụng lại không giống như nguyên âm).
- Chính tả ghi bằng u trước các nguyên âm vừa hoặc hẹp (uê, uơ, uya).
- Chính tả ghi bằng o trước các nguyên âm rộng (oa, oe) trừ khi trước nó là phụ
âm q thì lại ghi bằng u (qua, que = koa, koe).
- Vì âm đệm là âm tròn môi, nên nó không đi trước các nguyên âm tròn môi o, ô,
u nữa.
- Khi phát âm, không được dừng lâu ở âm đệm, mà phải chuyển qua âm chính
ngay.
b. Âm chính : Vị trí âm chính do các nguyên âm đảm nhiệm
- Nguyên âm : là những âm tự nó phát ra âm thanh m à không cần nhờ tới một âm
nào khác : làn hơi từ phổi ra qua thanh đới mở-đóng tạo cao độ của âm thanh, còn
hình thể các khoang họng và khoang miệng khác nhau, do hoạt động của l ưỡi và
hàm dưới, sẽ tạo ra các nguyên âm khác nhau (hình 11).
- Phân loại : có hai loại nguyên âm chính là nguyên âm đơn (a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư,
e, ê, i/y) và nguyên âm phức (ia (iê), ưa (ươ), ua (uô)).
* Dựa trên vị trí của lưỡi, người ta còn phân ra :
+ Nguyên âm hàng trước (lưỡi đưa ra trước, âm sắc sáng, bổng, môi bẹt) : e, ê,
i/y, iê (ia).
+ Nguyên âm hàng giữa (lưỡi nằm ở giữa, âm sắc trung hoà, môi không bẹt,
không tròn) : a (ă), ơ (â), ư, ươ (ua).[1]
+ Nguyên âm hàng sau (lưỡi rụt về sau, âm sắc tối, trầm, môi tr òn) : o, ô, u, uô
(ua).
* Dựa trên độ mở của miệng, ta có 4 loại :
+ Nguyên âm rộng : e, a, o (âm lượng lớn)
+ Nguyên âm vừa : ê, ơ, ô (âm lượng vừa)
+ Nguyên âm hẹp : i, ư, u (âm lượng nhỏ)
+ Nguyên âm hẹp mở qua vừa : iê, ươ, uô (âm lượng nhỏ và lớn dần đến vừa)
Ghi chú :
- ă là âm ngắn của a
- â là âm ngắn của ơ
- o và ô đôi lúc có dạng âm dài là : oo, ôô (xoong, bôông) ia, ua, ưa là âm phức
không có âm cuối (Td: chia, chua, chưa )
- Âm chính cùng với thanh điệu là hai yếu tố tối thiểu phải luôn luôn có mặt trong
âm tiết, nếu không sẽ không có âm tiết : ả, ổ, ố ...
c. Âm cuối :
Vị trí âm cuối do các bán âm cuối và phụ âm cuối đảm nhận.
* Bán âm cuối có 2 loại :
- Bán âm cuối bẹt miệng (lưỡi đưa ra trước) được ghi bằng i hoặc y :
+ Được ghi bằng y sau các nguyên âm ngắn ă, â : ăy, âu (hãy lấy : đáng lẽ ra
chính tả phải ghi "hẵy" mới đúng ngữ âm).
+ Được ghi bằng i sau tất cả các nguyên âm còn lại mà không bẹt miệng (tức là
bán âm i không đi sau các nguyên âm hàng trư ớc, bẹt miệâng) : ai ơi, ưi, ươi (ai #
ăy) oi, ôi, ui, uôi.
- Bán âm cuối tròn môi (lưỡi rụt vào trong) được ghi bằng u hoặc o :
+ Không đi sau các nguyên âm hàng sau (tr òn môi)
+ Được ghi bằng u sau các âm ngắn : âu, ău (trâu, t àu : đáng lẽ chính tả phải ghi
"tằu" mới đúng ngữ âm)
+ Được ghi bằng u sau các âm vừa v à âm hẹp : du, ưu, ươu, êu, iu, iêu (yêu)
+ Được ghi bằng o sau các âm rộng a, e = ao, eo (ao # ău)
Lưu ý : khi gặp ay thì phải phân tích là ăy, khi gặp au thì phải phân tích là ău
* Phụ âm cuối gồm 8 âm chia l àm 4 cặp như sau :
- Phụ âm môi : m - p (đóng tiếng bằng 2 môi) : làm đẹp, rập rạp ...
- Phụ âm đầu lưỡi : n - t (đóng lưỡi lên chân răng) : ban hát, sền sệt ...
- Phụ âm mặt lưỡi : nh - ch (đóng mặt lưỡi lên vòm miệng) : chênh chếch, rách,
rình
Lưu ý : nh - ch chỉ đi sau các nguyên âm hàng trước e - ê - i : enh ech, ênh êch,
inh ich. Do đó, khi chính t ả ghi anh, ach, ta phải phân tích l à enh ech mới đúng.
- Phụ âm cuống lưỡi : ng - c (đóng cuống lưỡi lên vòm mềm) : vang, dốc, vằng
vặc ...
Lưu ý : khi ng - c đi sau các nguyên âm hàng sau o - ô - u, thì không phải chỉ
đóng cuống lưỡi, mà còn phải đóng ngay cả 2 môi nữa (ta phải ộc tiếng làm cho 2
má hơi phồng lên để tạo khoảng vang trong miệng).
Ghi chú :
- Các phụ âm cuối p, t, ch, c chỉ đi với thanh điệu sắc hoặc nặng, l àm cho vần phải
đọc dứt sớm hơn các vần đóng cùng loại, cổ thi gọi các vần đó l à vần chết (tử
vận).
- Khi vần có các âm cuối, thì âm chính ít nhiều bị ảnh hưởng - nó làm cho độ mở
của miệng giảm bớt, ngắn lại.
- Các vần có âm cuối gọi là VẦN ĐÓNG, các vần không có âm cuối gọi l à VẦN
MỞ.
5. Thanh điệu :
Gồm có sáu thanh : (1) ngang, (2) huyền, (3) ngã, (4) hỏi, (5) sắc, (6) nặng ; được
ký hiệu phiên âm bằng số 1 - 6 theo thứ tự trên.
a. Thanh điệu là yếu tố thay đổi cao độ của âm tiết. Nó ảnh hưởng lên toàn bộ âm
tiết, nhưng khi viết nó được ghi trên hoặc dưới âm chính là nguyên âm đơn. Gặp
nguyên âm phức không kèm theo âm cuối thì nó được ghi trên yếu tố đầu của âm
phức (thí dụ : Chúa, chìa, chừa). Nếu nguyên âm phức có kèm theo phụ âm cuối
thì thường ghi thanh điệu trên yếu tố thứ 2 của âm phức đó.
Thí dụ : vướng, tiếng, chuồng.
b. Phân loại dựa tên âm vực : có 2 loại cao và thấp
- Âm vực cao : thanh ngang, thanh ngã, thanh sắc
- Âm vực thấp : thanh huyền, thanh hỏi, thanh nặng
c. Phân loại dựa trên âm điệu : có 2 loại bằng và trắc
- Âm điệu bằng : thang ngang, thanh huyền
- Âm điệu trắc : (không bằng phẳng)
+ Có đối hướng (gãy) : thanh ngã, thanh hỏi
+ Không đối hướng : thanh sắc, thanh nặng
THỰC HÀNH
1. Tập đọc các nguyên âm đơn hàng trước, hàng giữa, hàng sau
- Phối hợp các phụ âm với các nguyên âm trên.
2. Tập đọc các âm cuối :
- Mai, măy, mao, mău, mam, máp, man, mát, mang mác ...
- Tai, tăy, tao, tam, tan, tang ...
- Mái, mắy, máo, mắu, mám, máp, mán, máng, mác. (Thay bằng các phụ âm đầu
khác).
3. Tập phân biệt phụ âm đầu : xa # sa, la # na, tra # cha (thay các nguyên âm
khác).
4. Tập phân tích ngữ âm tất cả các chữ trong bài "Khúc Nhạc Cảm Tạ" và tập đọc
cho đúng cách cấu âm của từng chữ, nhất là các phụ âm đầu và âm cuối : "Tình
Chúa cao vời, ôi tình Chúa tuyệt vời, Người đã yêu tôi, muôn đời đã thương tôi,
thương tôi từ thuở đời đời. Người đã cho tôi tiếng nói tuyệt vời, âm thanh chơi vơi
ru hồn phơi phới, tiếng nói yêu thương, bay khắp muôn phương, vang lên khúc
nhạc cảm tạ ngàn đời" (56 âm tiết).
Phân tích theo mẫu sau đây :
Bảng phân tích ngữ âm và xử lý ngôn ngữ bài "Khúc Nhạc Cảm Tạ" (xem giấy
đính kèm)
- Lúc đầu chỉ phân tích đến mục "âm cuối", còn "loại vần", và "xử lý cụ thể" sẽ
điền vào, sau khi đã học bài xử lý ngôn ngữ.
- Xử lý cụ thể là xét vần đó hát như thế nào, mở đóng ra sao, đóng ở dấu nào cụ
thể trong từng bài hát.
III. PHƯƠNG PHÁP HÍT THỞ TRONG THUYẾT TRÌNH
1. Trong sinh hoạt bình thường, con người thở một cách tự nhiên với sự tham gia
của lồng ngực và hoành cách mô. Trong khi nói, chúng ta c ũng thở nhưng với sự
tham gia chủ động và tích cực hơn của các cơ năng đó. Tuy nhiên, trong quá tr ình
phát triển kỹ thuật hơi thở, người ta đúc kết lại một số kiểu thở, tuỳ theo ng ười ta
nhấn mạnh đến sự tham gia của ngực hay của ho ành cách mô hoặc cả ngực cả
hoành cách mô.
a. Kiểu thở ngực : Chỉ có phần ngực tr ên hoạt động tích cực, nên hơi vào ít,
b. Kiểu thở bụng : Chỉ có bụng ph ình ra do hoành cách mô hạ xuống, các cơ bụng
dưới hoạt động tích cực hỗå trợ cho hoành cách mô (hình 6A).
c. Kiểu thở bụng kết hợp với ngực : Ho ành cách mô hạ xuống (làm bụng hơi
phình ra), các xương sườn cụt giương lên, ngực dưới căng ra, trong lúc ngực trên
trương lên. Các hoạt động này kế tiếp nhau rất nhanh theo thứ tự : Hoành cách mô
(bụng trên) + xương sườn cụt + ngực dưới + ngực trên. Nói cho gọn lại, gồm hai
động tác : phình bụng (do hoành cách mô hạ xuống và sườn giương lên) và trương
lồng ngực (ngực dưới căng ra, giữ nguyên độ căng và chuyển lên ngực trên). Lấy
hơi theo thứ tự đó thì làn hơi vào sâu đáy phổi, vừa lan toả ra đều khắp hai b ên
trái và phải, lượng hơi vào được tối đa (hình 3 ; 6D).
Đây là kiểu thở phổ biến nhất mà các ca sĩ nhạc kịch thường dùng.
Trong ba kiểu thở trên, chúng ta thấy kiểu ba có nhiều lợi điểm hơn. Nhưng hai
kiểu kia vẫn có người sử dụng và tạo được hiệu quả như họ mong muốn.
2. Trong hơi thở bình thường, cũng như hơi thở thanh nhạc, ta thấy có hai động
tác ngược chiều nhau, đó là hít vào và thở ra. Trong khi nói, phải tập để hít h ơi
vào (còn gọi là lấy hơi) làm sao cho đủ lượng hơi cần thiết cho từng câu nói dài
ngắn, mạnh nhẹ, cao thấp khác nhau. Đồng thời cũng phải tập thở ra (c òn gọi là
đẩy hơi) sao cho làn hơi được phù hợp với mọi tình huống của câu hát. Nói cách
khác là tập điều chế hơi thở cho tốt, tuỳ theo sắc thái cường độ, cao độ, trường độ
của âm thanh. Sau đây là một số yêu cầu chung cho hai hoạt động nói tr ên :
a. Lấy hơi (hít hơi) :
- Cần phải nhẹ nhàng và hít vào mau lẹ bằng mũi và bằng miệng (như vậy làn hơi
mới vào sâu trong phổi được).
- Nén hơi vài giây trước khi hát và cố gắng giữ lồng ngực căng trong suốt câu nói.
b. Đẩy hơi (điều chế làn hơi) :
- Đưa hơi thở ra chính xác cùng lúc với hoạt động của thanh đới, không sớm,
không muộn. Nếu sớm quá (sur la glotte) âm thanh nghe cứng cỏi vì thanh đới
căng ra trước khi làn hơi tới. Nếu muộn quá (sur le souffle), âm thanh nghe không
rõ, mà lại tốn hơi, vì làn hơi ra trước khi thanh đới rung.
- Đưa hơi ra đều đặn, không đứt quãng, không quá căng. Khi phải hát những bước
nhảy (từ quãng 4 trở lên), nên có tác động ép bụng cách mềm mại để âm thanh
phát ra đúng cao độ và âm vang đầy đặn. Tạo cảm giác như điểm tựa của làn hơi
ở vùng xương chậu : làn hơi như được đẩy lên nhờ tựa vào vùng xương chậu. Các
cơ bụng dưới hơi căng, tạo thành chỗ dựa vững chắc cho làn hơi phóng lên.
3. Một số điểm cần tránh khi lấy hơi cũng như khi đẩy hơi :
a. Khi lấy hơi :
- Không nên lấy hơi hoàn toàn qua miệng, trừ những trường hợp cao trào, phải
cướp hơi, hoặc những trường hợp hát khi các vần mở mà phải hát nhanh, nhịp
nhàng.
- Không nên hít hơi quá nhiều, làm căng thẳng các cơ bụng, sườn, ngực ... tác hại
đến việc phát thanh. Cần tập lấy hơi theo mức dài ngắn, mạnh nhẹ của câu nhạc.
- Không nên để hết hơi hoàn toàn mới lấy hơi khác, như vậy âm thanh cuối câu dễ
bị đuối đi, có thể làm đỏ mặt, đỏ cổ ...
- Không nên nhô vai lên khi hít hơi v ì sẽ ảnh hưởng đến các cơ hô hấp, lấy hơi
không sâu được.
- Không nên phình bụng ra trước khi lấy hơi : Chính không khí đi vào sâu trong
phổi đồng thời với việc hạ hoành cách mô làm phình bụng ra. Nếu phình bụng
trước sẽ làm cho cơ thể bị căng cứng, ảnh hưởng xấu đến việc phát âm.
b. Khi đẩy hơi :
- Không nên đẩy hơi quá mạnh khi hát các dấu cao, đành rằng có tốn nhiều hơi
hơn hát dấu trầm (vì thanh đới không khép kín hoàn toàn khi hát dấu cao), nhưng
nếu quá mạnh, sẽ làm thanh đới quá căng, ảnh hưởng tới âm sắc.
- Không nên phí phạm hơi thở, phải biết điều chế hơi thở sao cho phù hợp với tính
cách của từng câu, để âm thanh vẫn âm vang đầy đặn từ đầu đến cuối câu. Điều
chế hơi thở nhờ hoành cách mô nâng lên dần dần và mềm mại với sự hỗ trợ của
các cơ bụng, còn lồng ngực vẫn căng tạo thành một cột hơi phía trên luôn luôn
liên tục, đầy đặn.
4. Luyện tập hơi thở :
Việc luyện tập hơi thở thường phải đi đôi với việc luyện thanh, nghĩa là tập hơi
thở với âm thanh, có như vậy ta mới dễ kiểm tra được hoạt động của hơi thở qua
chất lượng của âm thanh phát ra. "Hơi thở đúng, âm thanh đẹp" đó là câu châm
ngôn của người thuyết trình. Hơi thở đúng sẽ giúp đặt vị trí âm thanh đúng, làm
cho tiếng vang đẹp. Ngược lại vị trí âm thanh đúng giúp cho việc đẩy hơi được dễ
dàng, tiết kiệm được hơi thở. Vị trí âm thanh và hơi thở là hai yếu tố hỗ trợ nhau
để phát ra âm thanh có chất lượng, nên không thể tách rời từng hoạt động ri êng rẽ.
Tuy nhiên trong bước đầu, chúng ta có thể tập hơi thở riêng để làm quen với kiểu
thở tích cực trong thanh nhạc, hoặc để tăng cường lực hít hơi và đẩy hơi của
chúng ta.
14/07/2011 Đăng bởi Green Monster
9 trong số 9
PHẦN THỰC TẬP
1. Tập các cơ bụng để hỗ trợ cho hoành cách mô :
- Đứng thẳng người : thẳng lưng, thẳng đầu, áp mặt hai bàn tay vào sau lưng để
ngón cái nằm bên hông ngang thắt lưng.
- Đặt bàn chân phải sát đất hướng ra phía trước, chân thẳng, người thẳng.
- Rút chân phải về, bàn chân vẫn chạm đất, và đưa chân trái ra y như chân phải :
50 - 100 lần.
- Thân người không nghiêng qua nghiêng lại, không nhô lên nhô xuống (Bài tập
này dùng để khởi động khi học thanh nhạc, hoặc để tập thể dục trong ng ày).
2. Tập lồng ngực :
- Hai bàn tay nắm lại, thẳng ra phía trước, song song mặt đất : thở ra từ từ.
- Hất mạnh hai tay ra phía sau, luôn thẳng cánh tay : hính nhanh v ào.
- Dừng lại một vài giây : nén hơi.
- Đưa hai tay ra phía trước như lúc đầu : thở ra từ từ ...
3. Tìm cảm giác điểm tựa của làn hơi :
- Lấy hơi vào như thường lệ.
- Làm như "thổi bụi" nhưng ngậm miệng (bịt mũi nếu cần) để cho h ơi không thoát
ra ngoài, nhưng hơi dội lại xuống hoành cách mô và tác động lên bụng, lên vùng
xương chậu, làm căng các cơ ở xung quanh vùng đó. Đó được coi như điểm tựa
của làn hơi trong khi chúng ta nói, nh ất là khí phải nói cao, nói mạnh, nói có sinh
khí.
14/07/2011 Đăng bởi Green Monster
Bạn cũng có thể quan tâm
Giọng cao nhất của Bằng Kiều là giọng gì?
justin bieber co thuc su hat hay khong
cuu em voi!em muon co giong hat that cao.cac anh chi em giup em voi.
em đang tìm 1 bài nhạc dance có 1 giọng melody nữ .... và tiếng beat là nà ná na nà na ná na ... na na na nà na ná nà
Jaejoong và yunho ai là leader của dbsk
Đăng nhập
Xem Giải Đáp ở: Di động | Cổ điển
©2014 Google - Chính sách bảo mật - Trợ giúp