Trang chủ > Câu hỏi
Câu hỏi
y nghia cua cong uoc luat bien quoc te nam 1982
Pháp luật 02/08/2011 Đăng bởi Năm Dân
Câu trả lời
1 trong số 2
Mọi vấn đề chanh chấp trên Biển Đông phải được giải quyết trên bàn đàm phán .
02/08/2011 Đăng bởi NgườiThànhNam
2 trong số 2
Để giúp cho việc quản lý cũng như phát triển ngành vận tải biển, Công ước Luật biển 1982 đã đặt ra nhiều yêu cầu đối với quốc gia ven biển. Các quy định của Công ước 1982 liên quan trực tiếp đến lĩnh vực giao thông vận tải biển (GTVTB) bao gồm:

- Các quy định về quyền của quốc gia ven biển;

- Các quy định về quyền của quốc gia mà tàu mang cờ;

- Các quy định về quyền của quốc gia có cảng.

1. Các quy định về quyền của quốc gia ven biển

Quốc gia ven biển có nghĩa vụ đảm bảo quyền qua lại không gây hại trong các vùng biển thuộc chủ quyền của mình và quyền tự do hàng hải trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Để thực hiện nghĩa vụ này, quốc gia ven biển được quyền ban hành pháp luật và quyền thực thi pháp luật liên quan đến lĩnh vực GTVTB, phù hợp với các quy định của Công ước Luật biển 1982 nhằm điều hành hoạt động của các tàu thuyền nước ngoài trong các vùng biển của mình.

- Trong vùng nội thuỷ và lãnh hải, Công ước Luật biển 1982 quy định các quốc gia ven biển có quyền và nghĩa vụ cơ bản sau:

+ Định ra, phù hợp với các quy định của Công ước Luật biển 1982 và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế, các luật và quy định liên quan đến việc đi qua không gây hại[1], an toàn hàng hải, giao thông trên biển, bảo vệ các biển hiệu và công trình cảng, bảo vệ môi trường và phòng chống ô nhiễm biển. Quốc gia ven biển công bố theo đúng thủ tục các luật lệ và quy định này.

+ Định ra, ghi rõ các tuyến đường và bố trí phân luồn giao thông trên hải đồ và công bố theo đúng thủ tục[2].

+ Quyền kiểm tra các tàu thuyền nước ngoài trong việc thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế quy định trong Luật Hàng hải về thiết kế, kỹ thuật của tàu và tiêu chuẩn đối với thuyền viên. Áp dụng các biện pháp cần thiết đối với tàu thuyền nước ngoài chạy bằng năng lượng hạt nhân và tàu thuyền chở các chất phóng xạ hay các chất vốn nguy hiểm hoặc độc hại theo quy định quốc tế[3].

+ Thông báo thích đáng mọi nguy hiểm về hàng hải mà mình biết trong nội thủy và lãnh hải của mình[4].

+ Tổ chức có hiệu quả công tác tìm kiếm cứu nạn tàu thuyền nước ngoài.

+ Thi hành các biện pháp cần thiết để ngăn cản mọi việc đi qua gây có hại.

Quốc gia ven biển với tư cách là quốc gia quá cảnh có quyền định ra tất cả mọi biện pháp cần thiết để đảm bảo thuận lợi cho việc quá cảnh của các phương tiện quá cảnh của quốc gia không có biển đồng thời đảm bảo lợi ích chính đáng của quốc gia quá cảnh[5].

- Trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, quốc gia ven biển có những quyền và nghĩa vụ cơ bản sau:

- Quyết định việc xây dựng các đảo nhân tạo, các thiết bị hoặc công trình sao cho chúng không gây trở ngại cho việc sử dụng các đường hàng hải quốc tế thiết yếu; lập ra xung quanh các đảo nhân tạo, các thiết bị hoặc công trình những khu vực an toàn với kích thước hợp lý, trong đó áp dụng các biện pháp thích hợp để bảo đảm an toàn hàng hải, cũng như an toàn của các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình. Phạm vi của khu vực an toàn phải thông báo theo đúng thủ tục.

- Duy trì các phương tiện thường trực để báo hiệu sự có mặt của các đảo, thiết bị và công trình; quyết định về việc tháo dỡ các thiết bị hay công trình đã bỏ hay không dùng đến nữa và phải thông báo thích đáng về kích thước, vị trí, kích thước và độ sâu của những phần còn lại của một thiết bị hoặc công trình chưa được tháo dỡ hoàn toàn[6].

Trong khi thực hiện các quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình trong các vùng biển, QGVB có thể tiến hành các biện pháp khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp đối với các tàu thuyền có vi phạm để đảm bảo việc tôn trọng các luật và quy định mà mình đã ban hành theo đúng Công ước[7], kể cả các biện pháp cần thiết nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển[8] cũng như tuân thủ các điều kiện trong nghiên cứu khoa học biển[9].

Công ước Luật biển 1982 còn có các quy định về thủ tục trọng tài đặc biệt nhằm giải quyết các tranh chấp đến giải thích hay áp dụng các quy định của Công ước Luật biển 1982 liên quan đến hàng hải, kể cả nạn ô nhiễm do các tàu thuyền hay do nhận chìm[10].

2. Các quy định về quyền của quốc gia mà tàu mang cờ

Theo luật quốc tế, tàu thuyền chỉ hoạt động dưới cờ của một quốc gia, trừ những trường hợp ngoại lệ đã được quy định rõ trong các điều ước quốc tế hay của Công ước Luật biển 1982, thì con tàu chỉ thuộc quyền tài phán riêng biệt của quốc gia mà tàu mang cờ khi ở biển cả[11].

Trong khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải và tự do hàng hải của quốc gia ven biển, quốc gia mà tàu thuyền mang cờ vẫn có quyền tài phán và kiểm soát trong lĩnh vực hành chính, kỹ thuật và xã hội đối với tàu thuyền mang cờ của mình. Quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ được thể hiện ở các lĩnh vực[12]:

- Phải bảo đảm tàu mang cờ của quốc gia mình phải có một cuốn sổ đăng ký tàu và sổ này phải bao gồm các nội dung: tên, đặc điểm tàu, trừ các tàu thuyền có kích thước nhỏ, không nằm trong quy định quốc tế được chấp nhận chung;

- Thi hành quyền tài phán theo đúng luật quốc gia mình đối với bất kỳ tàu thuyền nào mang cờ của quốc gia mình, cũng như đối với thuyền trưởng, các sỹ quan và thủy thủ về các vấn đề hành chính, kỹ thuật và xã hội liên quan đến tàu thuyền;

- Phải có các biện pháp cần thiết đối với tàu thuyền mang cờ của quốc gia mình để bảo đảm an toàn trên biển, nhất là về cấu trúc, trang thiết bị và khả năng đi biển của tàu; thành phần, điều kiện làm việc và đào tạo đối với thuyền viên, có tính đến các quy định quốc tế có liên quan; việc sử dụng tín hiệu, duy trì trạng thái hoạt động tốt của hệ thống thông tin liên lạc nhằm phòng ngừa tai nạn đâm va;

- Tiến hành điều tra về bất kỳ tai nạn, sự cố hàng hải nào trên biển cả có liên quan đến tàu mang cờ nước mình, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho tàu thuyền và công trình thiết bị quốc gia khác hay cho môi trường biển. Hợp tác với các quốc gia hữu quan trong việc tiến hành các cuộc điều tra đó.

Bên cạnh đó, các công ước của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) cũng luôn nhấn mạnh nguyên tắc quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ. Quốc gia nào đã tham gia công ước quốc tế có nghĩa vụ thực hiện các quy định của công ước quốc tế. Theo quy định của các công ước quốc tế của IMO, quyền tài phán của một quốc gia đối với tàu thuyền được thể hiện ở sự bảo trợ của quốc gia đó đối với tàu mang cờ của quốc gia mình, như việc cấp các giấy chứng nhận cho tàu. Trên thực tế, quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ về mặt ban hành pháp luật và thực thi pháp luật thường được tiến hành đồng thời. Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì quyền thực thi luật do quốc gia mà tàu mang cờ ban hành lại được quốc gia ven biển, hoặc quốc gia có cảng thực thi, ví dụ như trong việc kiểm tra tàu khi tàu đến cảng hoặc vùng nước của các quốc gia đó. Trong trường hợp này, nguyên tắc thống nhất trong luật quốc tế là quyền tài phán của quốc gia mà tàu mang cờ được bổ sung mà không trái với quyền tài phán của quốc gia ven biển và quốc gia có cảng.

3. Các quy định về quyền của quốc gia có cảng

Quốc gia có chủ quyền trên lãnh thổ của mình và chủ quyền này cũng có thể được thực hiện đối với tàu nước ngoài ở trong cảng thuộc lãnh thổ hoặc các bến cảng ngoài khơi trong lãnh hải của mình. Thẩm quyền riêng của quốc gia có cảng được thực hiện trong việc kiểm tra các giấy tờ của tàu, kiểm tra thực trạng tàu và nếu có chứng cứ rõ ràng thì có quyền tạm giữ tàu.

Công ước Luật biển 1982 quy định quốc gia có cảng quyền điều tra, khởi tố khi có các chứng cứ để chứng minh, đối với bất kỳ sự thải đổ nào do tàu thuyền nước ngoài tiến hành ở nội thủy, lãnh hải hay vùng đặc quyền kinh tế của mình, vi phạm các luật và quy phạm quốc tế có thể áp dụng, được xây dựng qua trung gian của tổ chức quốc tế có thẩm quyền hay qua một hội nghị ngoại giao chung[13]. Quốc gia có cảng, theo yêu cầu hay tự ý mình, có quyền áp dụng các biện pháp kiểm tra khả năng đi biển của mọi tàu thuyền ở trong các cảng hay công trình cảng cuối cùng ngoài khơi của mình, phù hợp với các quy định của Công ước Luật biển 1982 và luật pháp quốc tế về GTVTB, nhằm tránh ô nhiễm biển[14].

Quốc gia có cảng cũng có nghĩa vụ thực hiện điều tra tại cảng, theo yêu cầu của quốc gia khác, về việc vi phạm của tàu thuyền nước ngoài trong các vùng biển của quốc gia đó dựa trên các quy định của tổ chức quốc tế chuyên môn có thẩm quyền ở đây trước hết là Công ước quốc tế của Tổ chức biển quốc tế IMO, như: tại Điều 21, Công ước về Trọng tải tàu 1966 (Loadlines); Điều 2, quy tắc 19, Chương I, Công ước quốc tế về An toàn sinh mạng người trên biển 1974 (SOLAS 74) và Nghị định thư 1978; Điều 5, 6, Công ước quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm từ tàu 1973 và Nghị định thư 1978 (MARPOL 73/78); Điều X, quy tắc I/4, Công ước về Tiêu chuẩn đào tạo, cấp chứng chỉ và trực ca của thuyền viên 1978 và Nghị định thư bổ sung 1995 (STCW 78/95, Điều I, Công ước quốc tế về sự can thiệp trên biển trong trường hợp có ô nhiễm dầu năm 1990, Công ước phòng chống ô nhiễm từ tàu MARPOL 73/78, Công ước về giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tàu CLC 1992, Công ước về Quỹ đền bù thiệt hại FUND 1992, Bộ Quy tắc về chuyên chở các chất độc hại 1990
02/08/2011 Đăng bởi dracula
Bạn cũng có thể quan tâm
Viet Nam la quoc gia vi pham luat ban quyen nhieu nhat the gioi ? Co fai k dong bao
Liên Hiệp Quốc dua ra luat bien de lam gi?
nhung hiep uoc ma trieu hue da ki voi thuc dan phap tu nam 1858 den nam 1884
muốn biết một so co pao nhiu uoc co cong thuc ko ????
doanh nghiep vay tu nhan thi co phai lap khe uoc vay khong?
Đăng nhập
Xem Giải Đáp ở: Di động | Cổ điển
©2014 Google - Chính sách bảo mật - Trợ giúp