Trang chủ > Câu hỏi
Câu hỏi
ca hue la gi? vai net dac diem ve ca hue
Âm nhạc 06/11/2010 Đăng bởi Chưa đặt tên
Câu trả lời
1 trong số 2
Ca Huế là một thể loại âm nhạc cổ truyền của xứ Huế, Việt Nam, bao gồm ca và đàn, ở nhiều phương diện khá gần gũi với hát ả đào.

Lịch sử

Nếu kinh đô Thăng Long xưa từ trong cung phủ đã có một lối hát cửa quyền phát tán thành một dòng dân gian chuyên nghiệp là hát Ả đào và vẫn thịnh đạt dưới thời vua Lê chúa Trịnh, thì kinh đô Phú Xuân sau này, hoặc là đã từ trong dinh phủ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phát tán thành một lối gọi là ca Huế (gồm cả ca và đàn). Vậy cũng có thể gọi Ca Huế là một lối hát Ả đào của người Huế, một lối chơi của các ông hoàng bà chúa xét trên quan điểm tiếp biến trong tiến trình của một lối hát truyền thống [1] và tiến trình lịch sử từ Thăng Long đến Phú Xuân-Huế.
[sửa] Đặc điểm

Ca Huế mang sắc thái địa phương rõ nét bởi nó gắn chặt với đặc điểm ngữ âm ngữ điệu của giọng nói xứ Huế, hoặc nói một cách khác mang tính hệ quả là do mối quan hệ gắn bó với nền âm nhạc dân gian - dân ca xứ Huế. Đây là một đặc điểm trong tiến trình phát triển của Ca Huế và cũng là một đặc điểm của nền âm nhạc cổ truyền xứ Huế; nơi mà hai thành phần âm nhạc: chuyên nghiệp bác học (nhã nhạc Cung đình, ca Huế), thành phần dân gian (dân ca: hò, lý...) thường xuyên tác động qua lại, gắn bó, thâm nhập, thúc đẩy lẫn nhau với hiện tượng dân gian hóa ở âm nhạc bác học và bác học hóa ở âm nhạc dân gian xảy ra liên tục trong quá trình phát triển.

Dù Ca Huế mang rõ nét tính chất đặc thù địa phương nhưng nó đã không chỉ bó hẹp trong một xứ Huế. Ngoài yếu tố đặc thù và một số đặc điểm vốn có của mọi thể loại nhạc cổ truyền thì nghệ thuật Ca Huế vẫn là khởi nguyên từ văn hóa nghệ thuật cội nguồn Thăng Long, hội tụ từ truyền thống văn hóa âm nhạc dân tộc. Vì vậy trong giai đoạn thịnh đạt đã lan tỏa trở lại với cội nguồn, thâm nhập và trở thành một thành phần tương hợp trong hầu hết dân ca vùng Trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Chẳng hạn: hơi Huế, giọng Lý, giọng Kinh ở khối giọng Vặt, giọng Ngoại trong hát Quan họ, hát Xoan, hát Ghẹo, hát Chèo v.v. Hướng phát triển về phía Nam của Ca Huế thì rõ ràng đã sản sinh ra lối nhạc tài tử như nhà nghiên cứu Giáo sư Trần Văn Khê nhận xét: "lối "nhạc tài tử" trong Nam là con đẻ của lối "ca Huế" miền Trung".

Nói là Ca Huế gắn với ngữ âm của giọng nói Xứ Huế, mà giọng Huế thì không chuẩn như Hà Nội trong vấn đề xử lý các dấu giọng, nên với đặc tính "cạn và hẹp" giọng nói Huế đã để lại dấu vết trong đường nét giai điệu Ca Huế một tính chất đặc hữu, khác với dân ca nhạc cổ từ đèo Ngang trở ra và từ Hải Vân trở vào. Tuy vậy một số nhà nghiên cứu còn căn cứ vào sự giao thoa ảnh hưởng của các truyền thống văn hóa khác trong lịch sử văn hóa Việt Nam cho rằng: điệu Nam trong ca Huế do ảnh hưởng nhạc Chăm mà có. Đến nay vấn đề này vẫn đang bỏ ngõ vì thiếu chứng liệu.
[sửa] Lịch sử nghiên cứu

Từ năm 1956 trong bài Việc sưu tầm nghiên cứu của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba[2], nhạc sĩ Văn Cao đã rất e dè với vấn đề ảnh hưởng của nhạc Chàm trong ca Huế mà Nguyễn Hữu Ba đã đặt ra: "Tôi không biết được anh đã có những thí dụ gì chứng minh, nhưng tôi biết rằng phần thắc mắc này của anh còn đợi có phương tiện đầy đủ mới giải quyết được". Thái Văn Kiểm trong bài Ảnh hưởng Chiêm Thành trong ca nhạc Huế[3] lại nhận xét một cách chắc chắn là điệu Nam trong ca Huế đã "phỏng theo các ca khúc của Chiêm Thành mà đặt ra". Tuy nhiên các sự kiện lịch sử mà ông nêu ra làm căn cứ cho nhận xét của mình thì hoàn toàn không liên quan gì đến việc hình thành điệu Nam trong ca Huế. Những sự kiện các vua nhà Lý đi chinh phạt Chiêm quốc mà cụ thể là việc vua Lý Thái Tông năm 1044 đánh vào quốc đô là Phật Thệ bắt cung nữ Chiêm biết múa hát khúc Tây Thiên đưa về kinh (là Kinh Bắc); năm 1202 vua Lý Cao Tông sai nhạc công soạn khúc Chiêm Thành âm... thì cớ gì mà hình thành điệu Nam trong ca Huế ở tận xứ Thuận Hóa mấy trăm năm sau? Nếu cho rằng hát Quan họ, Ca trù và kể cả dân ca khu vực đồng bằng Bắc bộ ảnh hưởng nhạc Chăm vì những sự kiện lịch sử nêu trên thì khả dĩ còn hợp lý hơn, chứ không thể vô lý như tác giả bài viết kết luận: Theo những tài liệu trên, thì "Khúc Tây Thiên" và "Chiêm Thành âm" có lẽ là nguồn gốc các điệu Nam của ca nhạc Huế nay(!). Luận điểm này về sau được một số nhà nghiên cứu tiếp tục nêu lại, như Lê Văn Hảo trong một khảo cứu về ca Huế năm 1978 dù có chung chung hơn: "ảnh hưởng của nhạc Champa và nhạc Ấn Độ thể hiện trong các điệu Nam của ca nhạc Huế ".

GS. Trần Văn Khê xếp ca Huế vào loại Quan nhạc để phân biệt với Tục nhạc. Trong bài viết Lối "ca Huế" và lối "nhạc Tài tử"[4] ông đã căn cứ vào sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ để giả định tổ tiên của lối ca Huế: Trong các loại nhạc triều đình, có lẽ lối Cung trung nhạc - hay là Cung trung chi nhạc - là gần với lối đàn Huế nhất. Để nêu ra giả thiết này GS. Trần Văn Khê đã dựa vào việc "ông quan nội điện cung phụng quản tiên hữu đội" là Nguyễn Đình Địch đời Cảnh Hưng nhà Lê "học nhạc Trung Hoa rồi biến đổi ra theo tiếng Nam... và ông Vũ Chỉ Đồng trước học điệu tàu rồi gảy ra tiếng ta và xen theo các bài đàn đáy, đàn nguyệt của ta...bụng nghĩ thế nào tay gảy được thế". Hiện nay Cung trung nhạc thời Nguyễn, là thời đại gần ta nhất nhưng bài bản như thế nào các nhà Nhã nhạc học vẫn tỏ ra lúng túng. Còn thời Lê, cái nhạc của ông quan nội điện cung phụng quản tiên hữu đội đó chắc gì đã là nhạc của Cung trung chi nhạc. Nhưng nếu Cung trung chi nhạc thời Lê đồng nghĩa với lối Hát cửa quyền thì chắc đó là lối hát Ả đào thính phòng trong cung phủ mà Phạm Đình Hổ chép trong sách Vũ trung tùy bút: "Hát ở trong cung, tục gọi là hát cửa quyền, tiếng hát xinh xắn uốn éo dịu dàng, thanh nhã hơn giọng hát ngoài chốn giáo phường. Nhưng âm luật cũng không khác gì mấy". Như thế, theo quan điểm chúng tôi trình bày ở đầu bài viết này: Ca Huế có thể gọi là một lối hát Ả đào của người Huế vậy.[5]

Cũng trong bài viết này G.S Trần Văn Khê đã trình bày sự biến chuyển của ca đàn Huế từ thế kỷ 20ư so với ngoài Bắc và trong Nam. Ông cho rằng truyền thống cổ nhạc ở Huế được gìn giữ kỹ hơn, ít biến chuyển trước làn sóng của âm nhạc Âu-Tây. Trong khi ở ngoài Bắc hội Khai Trí Tiến Đức chủ trương "dùng khí cụ và chút ít phương pháp của Âu Tây để hòa những bản đàn cổ" hoặc "bài đàn như trước viết lại cho đúng phương pháp Âu-Tây". Ở trong Nam có nhạc sĩ Trần Quang Quờn đặt bài bản mới phỏng theo cung điệu xưa, sáng chế nhạc khí mới và đặt ra cach chép nhạc riêng; phong trào cải lương làm cho đờn ca tài tử phát triển mạnh theo hướng sân khấu; dùng đàn Tây như mandoline, guitare và violon để đờn Vọng cổ v.v. Ở Huế thì tồn cổ một cách cực đoan, đại diện có ông Hoàng Yến cực lực chống lại việc canh tân nhạc cổ; quan niệm điệu cổ và điệu kim khác nhau xa như trời với đất; điệu cổ êm ái mà trang nghiêm, điệu kim tục tằn và thô lỗ"[6]. Tác giả bài viết đã đưa ra chính kiến cho vấn đề này: "Chúng tôi không đồng ý với ông Hoàng Yến về chỗ người nhạc sĩ không có quyền sáng tác bài bản mới. Nhưng tôi đồng ý với nhạc sĩ miền Trung ở chỗ giữ truyền thống. Các lối đờn ngoài Bắc nhứt là trong Nam đều xa căn bản hơn đờn Huế". Có thể đây là do tính cách của người Huế, sự đổi mới thường muộn hơn so với các nơi khác chứ không hoàn toàn tồn cổ kiểu ông Hoàng Yến mà vẫn "ảnh hưởng Âu nhạc phát hiện bằng sự thành lập nhóm Tỳ bà với nhạc sư Nguyễn Hữu Ba".

Bài viết dù kém mạch lạc, ít tập trung và đôi lúc miên man, tản mạn như kiểu kể chuyện nhưng đã có những nhận xét và nêu những sự kiện lịch sử đáng chú ý.

Quan niệm trên của ông Hoàng Yến về điệu cổ và điệu kim là một vấn đề mà Gs Trần Văn Khê đã tiếp tục đề cập trong một bài viết khác: Vài cái hay cái dở trong nhạc Việt[7]. Sau khi nêu vài ý kiến, nhận xét khen, chê đều mang tính chất cực đoan của một số thính giả trong và ngoài nước đối với nhạc cổ Việt Nam, tác giả muốn đánh giá lại một cách khách quan cái hay cái dở trong nhạc Việt cổ truyền (chủ yếu là lối ca đàn Huế và lối nhạc tài tư) với thiện chí "tìm khuyết điểm để bổ cứu, tìm ưu điểm để phát huy". Trong việc khen - chê, hay - dở, nếu đứng trên quan điểm thẩm mỹ của một truyền thống này để nhận xét một truyền thống âm nhạc khác mà mình chưa am tường thường sinh ra những trường hợp kiểu như nhạc sĩ Pháp Hector Berlioz nhận xét nhạc Trung Hoa là giống tiếng "chó ngáp mèo mửa". Trái lại một ông hoàng ở Lahore thì rất sành nhạc Ấn Độ, còn nhạc Âu đối với ông chỉ là "tiếng sói tru giữa sa mạc". Những nhận xét trong bài viết này của Giáo Sư Trần Văn Khê là vào năm 1961 (được đăng trên Tạp chí Bách Khoa năm 1969). Ở thời điểm này ông đã được tiếp xúc tương đối nhiều với các nền âm nhạc cổ truyền trên thế giới, vì vậy so sánh nhạc cổ Việt Nam với các nước khác ông đã nêu lên 4 nhược điểm của lối ca Huế và đàn tài tử như: Bài bản ít lại hay lặp điệu; Cách chép nhạc không khoa học; Phần lý thuyết rất yếu và Nhạc khí thì thô sơ. Đồng thời nêu 3 ưu điểm cần được phát huy là: Rao hay dạo; Nhấn và Cách hòa đờn. Đây là những nhận xét rất tâm huyết của tác giả. Đến nay, càng được tiếp xúc thêm với rất nhiều truyền thống âm nhạc khác nhau trên thế giới, kể cả Việt Nam, có thể GS đã phát hiện ra thêm những nhược điểm, những ưu điểm mới trong lối ca Huế và nhạc tài tử nói riêng và ca nhạc cổ truyền Việt Nam nói chung.

Dưới hình thức một bức thư gửi cho Trần Văn Khê ở nước ngoài, ông Vĩnh Phan, một nghệ sĩ đàn Huế đã nêu lên Vài ý kiến về các hơi nhạc cổ truyền Huế[8]. Đặc biệt ông cho GS. Trần Văn Khê biết là vừa tìm được một cuốn sach chép tay của một nhạc công trong Ban Tiểu nhạc có ký âm 17 bài bằng chữ Hán. 17 bài này nằm trong hệ thống bài bản của Tiểu nhạc, hiện nay chỉ còn lưu truyền 6 bài. Trong sách Lược sử âm nhạc Việt Nam GS. Nguyễn Thụy Loan có kể tên 17 bài này nhưng có khác với tài liệu của Vĩnh Phan chút ít là không có tên bài Bái Kinh và Bắc xướng Tẩu mã là hai bài khác nhau. Không rõ cuốn sách này hiện nay lưu lạc ở đâu?

Vấn đề chính trong bức thư này vẫn là ý kiến về hơi nhạc cổ truyền Huế. Những luận giải của nghệ sĩ Vĩnh Phan về Ngũ cung và các hơi chủ đích là để phản đối luận điểm của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba cho rằng thang âm Huế là thang bảy bậc đều nhau. Ông đã đưa ra một loạt dẫn chứng rất thuyết phục để xác định các hơi trong nhạc Huế thuộc hệ thống thang năm âm. Đáng chú ý là sự phân tích của ông về hơi thiền (thuyền): " Trong một bài hơi Khách (Bắc) mà có 2 cung Ì, PHÀN thì dĩ nhiên có chuyển hệ; Cũng trong một bài hơi khách mà hai cung XỰ và CỐNG luôn luôn có mặt trong khi dứt câu, hay ở đầu ô nhịp, lúc đánh cho ta cảm giác một âm giai thứ. Hoặc dùng cả Ì, Phàn nữa, hơi đó nhất định là hơi thuyền. Tuy nhiên việc ông gọi Khách (Bắc), Nam, Dựng, Ai và Thiền đều là hơi và chữ hơi này được ông chú là: "Theo tôi, nhạc Huế có nhiều hơi (système)", thì vấn đề còn cần phải xem xét lại. Một điểm nữa không biết nghệ sĩ Vĩnh Phan có cố ép cho người xưa hay không khi nói rằng: " Chỉ cần nhìn lại thang âm từ trước sẽ thấy người xưa đã định cho mỗi cung một tên riêng nhất định như sau:

                       Xang (Fa 2)
                       Xê (Sol 2)
                       Công (La 2)
                       Phàn (Sib 2)
                       Họ (Đô 3)
                       Xự (Ré 3) " v.v.

Người xưa là ai và vào thời nào mà định được mỗi cung một vị trí cao độ của hệ thống hàng âm bình quân như trong nhạc lý châu Âu? Trong Đờn Huế hầu như cũng chưa bao giờ có khái niệm về âm chuẩn.

Một vốn quý trong kho tàng âm nhạc Việt Nam cổ truyền[9] của Lê Văn Hảo là một khảo cứu đầy đặn về ca Huế đăng trên tạp chí từ trước đến nay. Mặc dù không phân thành chương, phần nhưng nội dung trình bày đã tập trung vào hai mảng lớn: Đặc điểm nghệ thuật ca Huế và nguồn gốc, quá trình phát triển. Ông khẳng định "ca nhạc Huế không phải là nhạc cung đình triều Nguyễn nhưng cũng không thuộc loại nhạc dân gian". Với một hệ thống bài bản phong phú, cấu trúc phức tạp nhưng chặt chẽ, hoàn chỉnh; những sắc thái tình cảm tinh tế cùng với những đòi hỏi khá phức tạp đối với ca công về cách hát, đối với nhạc công về kỹ thuật diễn tấu nhạc cụ, nên ca Huế thuộc về phạm trù âm nhạc cổ điển, bác học.

Đặc biệt, dù không phải là nhà nghiên cứu âm nhạc nhưng Lê Văn Hảo đã phân tích khá sâu sắc về vấn đề thang âm, điệu và hơi trong ca Huế. Hơi theo cách ông gọi là sắc thái của điệu: "Ca nhạc Huế có điệu thức Bắc và bốn sắc thái (quen gọi là hơi): hơi quảng, hơi đảo, hơi thiền, hơi nhạc, có điệu thức Nam và bốn sắc thái: hơi xuân, hơi thương, hơi ai, hơi oán. Giữa hai điệu thức Bắc và Nam có một sắc thái trung gian: hơi dựng ". Phát triển nhận xét của Trần Văn Khê về loại thang âm ngũ cung đều Lê Văn Hảo lý giải hiện tượng các cung mạnh thu hút các cung phụ - hay cung yếu và đưa ra nhận xét khá sâu sắc: "Chính hiện tượng các cung mạnh thu hút các cung yếu làm cho một thang âm đều trở thành một thang âm không đều và có ý nghĩa quyết định làm cho sắc thái tình cảm trở nên vui dịu nhẹ, hay buồn, ảo não".
Các nghệ sĩ ca Huế trên sông Hương

Tuy vậy, có một số vấn đề trong bài khảo cứu cần phải luận bàn thêm. Chẳng hạn: không cần thiết phải gọi là ca nhạc Huế thay cho tên gọi đã trở thành quen thuộc là ca Huế. Ca Huế đã tồn tại trong truyền thống như tên gọi ca Trù (hay là hát Ả đào) là một thể tài chuyên nghiệp luôn đi kèm với nhạc cụ. Ca nhạc Huế không thể không bị hiểu nhầm là toàn bộ nền ca nhạc tại Huế, cả quá khứ lẫn đương thời, cả nhạc cổ truyền (dân ca, ca Huế, ca nhạc cung đình, âm nhạc tín ngưỡng) lẫn tân nhạc (một khối lượng lớn các bài hát mới sáng tác về Huế, sáng tác trên chất liệu âm nhạc Huế). Tại sao lại liệt kê Nhã nhạc, Tiểu nhạc là một thành phần trong thành phần các loại nhạc cung đình với giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc v.v.? Tác giả đã không tiếc lời khi cho ca Huế là quá uyên bác, là điêu luyện, hoàn chỉnh, mẫu mực, là cấu trúc chặt chẽ với tính khoa học cao, và để dẫn đến là: "chẳng khác gì các hình thức đoạn đổi, đoạn điệp, chủ đề và biến tấu như trong nhạc cổ điển phương Tây" ! Một số sơ xuất đáng tiếc trong khi phân tích về thang âm điệu thức, như việc xác định thang âm điệu bắc trong ca Huế là ngũ cung đúng; thang âm điệu nam là thang âm ngũ cung khuyết (thang âm tứ cung với tàn dư tam cung) hoặc là thang âm ngũ cung không đều; các bậc non, già được chú thích là dièse, bémol v.v. Và nhất là tìm cách cố gán ép ca Huế là loại nhạc cổ điển do nhân dân sáng tạo ra, phân trần cho được các nghệ nhân, nghệ sĩ là sinh trưởng trong dân gian nhưng "một số không may bị trưng tập vào các đội ngự nhạc ở cung điện triều đình nhà Nguyễn... bị bọn thống trị ép buộc phục vụ chúng" một cách không cần thiết. Văn hóa Nghệ thuật của giai cấp nào đều không là là sản phẩm trí tuệ của Nhân dân. Khi đã bác học hóa thì trở thành lối chơi của ông hoàng bà chúa, giới quý tộc, khi đã dân gian hóa thì vẫn là sản phẩm trong tổng thể văn hóa dân gian mà thôi. Trong lịch sử văn hóa Huế sự không phân định rạch ròi các thành phần cũng là một đặc điểm. Nói gì thì nói, những người bảo lưu gìn giữ ca Huế cho đến 15, 20 năm trước Cách mạng Tháng 8 như tác giả kể đến thì hầu hết đều là các ông đội (đội trưởng đội ngự nhạc), ông hoàng và các chức sắc dưới triều Nguyễn như: các ông hoàng Nam Sách, Trấn Biên, Lãng Biên, Miên Trinh, các công chúa Ngọc Am, Mai An, Huệ Phố; gia đình ông Tống Văn Đạt với các ông đội Chín, đội Phước. Đội Thức; Các danh cầm, danh ca như Cả Soạn, Thừa Khiêm, Khóa Hài, Ngũ Đại, cậu Tốn Ut, Ưng Biều, Ưng Thông, đội Trác, Trợ Tồn, Bửu Bát v.v. Vấn đề nguồn gốc được tác giả đề cập quá chung. Quá trình phát triển nếu chỉ căn cứ vào những mốc lớn của lịch sử Việt Nam thì không những ca Huế mà các thể loại âm nhạc cổ truyền khác cũng đều bị ảnh hưởng. Tất nhiên, chính vấn đề này Gs Trần Văn Khê cũng đã từng thừa nhận: "chúng tôi chưa gặp một sử liệu nào có thể soi rõ sự chuyển biến của lối đàn Huế qua các thời đại".

Trong bài Sự phong phú và đa dạng của ca nhạc Huế[10] nhà nghiên cứu, nghệ sĩ ca kịch Huế Văn Lang có nêu vấn đề ảnh hưởng của nhạc Chàm đối với hai bài ca Huế: Nam ai và Nam bình. Theo ông, căn cứ vào sự kiện năm 1202 Lý Cao Tông sai soạn khúc Chiêm Thành âm có âm điệu "buồn sâu sắc mà người nghe không thể cầm được nước mắt" cho rằng "bài Nam ai có thể bắt nguồn từ khúc Chiêm Thành âm mà ra. Người nhạc sĩ trước đây đã dựa vào khúc Chiêm Thành âm để đặt ra bài Nam ai, vì trong Nam ai cũng có những âm cao và mang một nỗi buồn ai oán". Điều phỏng đoán này, cũng như ông Thái Văn Kiểm trong bài nêu ở trước, là đều không có chứng lý.

Một vấn đề khác cũng được tác giả bài viết nêu ra là cặp từ Bắc, Nam trong ca nhạc Huế. Ông không hoàn toàn nhất trí với quan điểm điệu Bắc mang ảnh hưởng âm nhạc Trung Hoa, điệu Nam là do ảnh hưởng nhạc Chiêm Thành. Theo ông: " những từ Bắc và Nam ở đây có thể chỉ là thuật ngữ để phân loại các hệ thống điệu thức - nhất là trong lĩnh vực hát dân tộc mà chủ yếu là cải lương và ca Huế".

Nhạc Huế[11] là bài viết mang tính chất tổng lược về âm nhạc cổ truyền xứ Huế. Tuy nhiên không hẳn là kiểu bài giới thiệu mang tính chất "điểm mặt" các thành phần, thể loại, mà Gs Tô Vũ đã đưa ra những nhận định sâu sắc về mặt âm nhạc. Chẳng hạn, ông bổ sung thêm những nghiên cứu trước của Trần Văn Khê, Phạm Duy về thang âm hò Mái đẩy là: "cũng là một loại thang âm rất gần so với chuỗi âm có thể thấy ở một loại kèn trong âm nhạc Chăm". Giáo sư phân định nhạc Huế thành ba thành phần chính yếu: Nhạc Lễ, Dân ca và Ca Huế. Đặc biệt đối với ca Huế, sau khi nhận xét các yếu tố bài bản, khúc thức, bố cục và phong cách trình diễn, ông đã có sự đánh giá sâu sắc: "Như vậy, có thể nói: ca Huế là một thể loại nhạc hát mang nhiều yếu tố chuyên nghiệp về cấu trúc và phong cách biểu diễn, nhưng về nội dung âm nhạc của nó thì bộ phận đặc sắc nhất lại chịu ảnh hưởng rõ rệt của Hò, Lý dân gian..."

Vấn đề giao thoa giữa hai thành phần này đã được Dương Bích Hà phát triển trong bài viết Âm nhạc cổ truyền xứ Huế trong mối quan hệ bác học và dân gian[12]: "Ca Huế mặc dù xuất phát tại cung đình nhưng nguồn gốc lại gắn bó với dân gian. Có thể nói rằng, trong nền âm nhạc cổ truyền Huế thì ca Huế - bộ phận thứ hai của dòng bác học - là nhịp cầu nối giữa cung đình - dân gian".
[sửa] Chú thích

Bạn tham khảo thêm

http://vi.wikipedia.org/wiki/Ca_Hu%E1%BA%BF
06/11/2010 Đăng bởi Mr.BeBiBo From BeBiBo.Net
2 trong số 2
Ca Huế là một bộ phận nằm trong tổng thể âm nhạc Huế gồm nhiều loại hình khác nhau : Nhạc cung đình, nhạc dân gian, nhạc lễ, nhạc tôn giáo, nhạc thính phòng.... phổ biến ở Huế và vùng chung quanh.

Ca Huế, hiểu theo nghĩa hẹp, gồm đàn Huế và ca Huế (chúng tôi dùng từ ca Huế ở đây bao gồm cả ca và đàn Huế). GS Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hoá sử cương viết : "Ở miền Nam thì từ khi chúa Nguyễn khai thác bờ cõi vào đất của Chiêm Thành, âm nhạc ở Bắc truyền vào đã chịu ảnh hưởng của âm nhạc Chiêm Thành, mà thành những âm nhạc cung nam mà người ta hay đem đối với các khúc cung bắc.

Những cung nam như nam ai, nam bình, nam xuân có vẻ trầm bi oán vọng, hợp với tâm thuật của một dân tộc điêu tàn là dân tộc Chiêm Thành, cùng với cảnh non nước dịu dàng ở xung quanh kinh đô. Những cung bắc (khách) như lưu thuỷ, phú lục, cổ bản, mười bản tàu, thì có vẻ linh hoạt, vui vẻ và mạnh mẽ hơn thích hợp với tính cách tiến thủ hăng hái của người Bắc Việt, cùng với cảnh đồn điền rộng rãi sông ngòi mãnh liệt ở miền trung châu.

Trong khi âm nhạc ở Đàng Ngoài đương suy thì ở Đàng Trong nhờ các chúa Nguyễn cùng các bậc vương công ham chuộng và nhờ ảnh hưởng Chiêm Thành, nên trở nên phong phú và thịnh vượng. Nhiều nhà quý phái như ông hoàng Nam sánh. ông phò Trần Quang Phổ ở đời Tự Đức là tay danh cầm xưa nay không ai hơn nổi"(1).

Như vậy, theo GS Đào Duy Anh, ca Huế chịu ảnh hưởng của hai nguồn âm nhạc : Trung Quốc và Chiêm Thành. ảnh hưởng của nhạc Trung Quốc là do người ngoài Bắc tràn vào đem theo nhạc Việt chịu ảnh hưởng lâu đời của nhạc Trung Quốc từ những lần giao thoa văn hoá. Đến khi chúa Nguyễn khai thác bờ cõi vào đất Chiêm Thành thì nguồn nhạc ấy lại chịu thêm một lần ảnh hưởng nữa : đó là những cung Nam trong ca Huế.

GS. TSKH Tô Ngọc Thanh nhận xét thêm một tính chất nữa của ca Huế : "Đặc biệt là ở Huế, nơi từng là căn cứ của họ Nguyễn nhiều thế kỷ và là kinh đô của triều Nguyễn trong hơn một thế kỷ (1802-1945) xuất hiện những loại hình âm nhạc có liên hệ với âm nhạc cung đình và phần nào đã mang tính chất âm nhạc thành thị, thị dân. Điển hình là chương trình ca Huế. Mặc dù ca Huê' không phải là loại âm nhạc cung đình, song nó là thứ âm nhạc trình diễn, là một sinh hoạt nghệ thuật thực sự. Nó không còn gắn với các hoạt động thực dụng trong đời sống hàng ngày. Để chiếm ảnh và biểu diễn nó, cần phải có tài năng của các nghệ nhân. Cùng với ca Huế, dàn nhạc thính phòng Huế hình thành và phát triển trong các thế kỷ XVIII, XIX. Dàn nhạc có cả một biểu mục chương trình rất phong phú về bài bản, giàu có về sắc thái, tình cảm, đặc sắc về phong cách. Nhà nghiên cứu âm nhạc có thể tìm thấy trong dân ca, nhạc thính phòng và ca Huế những nét biến đổi của truyền thống âm nhạc Việt. Đây là sự tiếp thu có chọn lọc những đặc trưng âm nhạc của các dân tộc bản địa, cộng với sự thích nghi hoà hợp của âm nhạc Việt với những yếu tố mới, khiến cho nó phong phú đa dạng hơn. Sự giao lưu của hai văn hoá khác nhau để tạo ra một văn hoá thứ ba, trong đó bao gồm sự hoà hợp nhuần nhuyễn của cả hai, như âm nhạc Huế, Trị Thiên, ngày nay khoa học gọi là tiếp biến văn hoá (accultaration)"(2).

Vốn liếng ca Huế gồm 30 bài bản chính. Đó là những bài bản thuộc hai điệu lớn, điệu Bắc và điệu Nam. Ta có thể kể :

1. Thuộc điệu Bắc (hơi khách).

Mười bài liên hoàn (còn gọi là 10 bản ngự, 10 bản tàu hoặc liên bộ thập chương) gồm : Phẩm tiết, Nguyên tiêu, Hồ Quảng, Liên hoàn, Bình bản, Tây mai, Kim tiền, Xuân phong, Long hổ, Tẩu mã.

Các bản khác gồm : Lưu thuỷ, Ngũ đối (thượng hạ), Long ngâm, Cổ bản, Lộng điệp, Phúc lục (nhanh, chậm).

2. Thuộc điệu Nam (hơi ai).

Nam ai (còn gọi ai giang nam), Nam bình, Quả phụ, Tương tư khúc. Thuộc điệu Nam (hơi dựng) : Hành vân, Nam xuân (hạ giang nam), Cổ bản dựng, Tứ đại cảnh.

Danh từ hơi là để chỉ 3 loại hơi trong ca Huế : Hơi khách (trang nghiêm, vui vẻ, linh hoạt), Hơi ai (nhớ nhung, thương cảm), Hơi dựng, hơi xuân, (bâng khuâng, lưu luyến, gởi gắm tâm tình).

Trong ca Huế, những bài bản thuộc cung Bắc mà chơi ngả sang cung Nam nghe không vui không buồn thì gọi là Hơi dựng, Hơi xuân. Đó là những bài Nam xuân, Tứ đại cảnh, Cổ bản dựng, Hành vân...

Bài thuộc hơi dựng mà đàn nhẹ nhàng, êm ái, tiếng to, tiếng nhỏ, nhịp chậm, nhịp mau, cho ta cái cảm tưởng như nghe người thỏ thẻ kể chuyện tâm tình vậy.

Những bài bản của ta chỉ là loại ca khúc mà không phải là loại nhạc khác. Hầu hết những lời ca của những bài bản này đều do những đời sau đặt ra với nhiều nội dung khác nhau, chứ ít bài có được lời ca nguyên gốc. Đó là một số điều ta cắn biết khi khảo sát, nghiên cứu các bài bản ca nhạc Huế.

Ca Huế phải chăng là nhạc cung đình ? hoặc có liên hệ với nhạc cung đình ? Đó là điều cần minh chứng khi tìm hiểu. Ta đã biết triều các vua Nguyễn, nhạc cung đình đã được dùng trong các nghi lễ, tế tự ở triều đình.

Triều Nguyễn, các loại nhạc cung đình như nhã nhạc, giao nhạc, miếu nhạc, đại triều nhạc, thường triều nhạc, yến nhạc, tiểu nhạc, cung trung nhạc... đều có hệ thống bài bản riêng, điệu múa riêng và một số nhạc khí riêng, không thể lẫn lộn với ca Huế được. Ví dụ loại Cung trung nhạc có những bài bản như : Sùng khánh, tập khánh, chương khánh, bảo khánh, thành khánh được tấu liên tục trong buổi lễ Từ thọ cung lục tuần đại khánh tiết. Đoàn nhạc sinh đội khăn mũ màu xanh, mặc áo hoa, múa với các đạo cụ trống đào, sênh tiền, đàn tranh, đàn nguyệt,. cầm, tì bà, địch, sáo và đàn 8 dây, 2 dây. Tuần chúc thọ lần đầu, sau khi tấu nhạc, đoàn nhạc sinh múa cành hoa xanh, tuần thứ hai múa cành hoa đỏ, tuần thứ ba múa cành hoa vàng. Khi ngự hồi vua về cung múa quả tiên đào(3)...

Nhạc khí của Cung trung nhạc gồm có trống đào, sênh tiền, đàn tranh, đàn nguyệt, cầm, tì bà, địch, sáo, đàn 3 dây, 2 dây, trong khi ca Huế cũng có loại đàn sáo đó nhưng không hề sử dụng trống. Nhạc khí của nhã nhạc cung đình có nhiều loại xa lạ với ca Huế như : Một bộ nhã nhạc : 1 trống mảnh, 1 đàn tì bà, 1 đàn nguyệt, 1 đàn 2 dây, 1 trống dính, 1 nhị tam âm, cái sênh tiền, 1 bộ nhạc treo, 1 kiến cổ, 1 chuông to, 1 khánh lớn, chuông nhỏ 12 cái, bác phụ 1 cái, chúc 1 cái, trống 1 cái, đàn cầm 2 cái, đàn sắt 2 cái, bài tiêu 2 cái, ống tiêu 1 cái, ốc đinh 2 cái, sênh 2 cái, huấn 2 cái, trì 2 cái, phách bản 2 cái..."(4).

Trong vốn liếng của ca nhạc Huế có mười bài liên hoàn gọi là mười ngự (liên bộ thập chương) do nhạc công trong ban tiêu nhạc của triều đình nhà Nguyễn tấu lên trong những dịp sinh hoạt công cộng, ví dụ những khi kiệu vua ra vào cung điện để làm lễ. Nhưng mười bài ngự đó không phải là những bài bản tiêu biểu cho nhạc cung đình mà chỉ là những bài bản vay mượn từ ca nhạc Huê' và bị cung đình hoá.

Trong giai đoạn hình thành của ca Huế, giữa nhạc cung đình và ca nhạc Huế có sự vay mượn lẫn nhau, vì trong giai đoạn này, sinh hoạt trong ca nhạc Huế nằm trong phạm vi cung đình. Chính các chúa Nguyễn, và sau này, vua Nguyễn đã nuôi dưỡng các nghệ nhân ca Huế, chuyển biến ca Huế thành một thú tiêu khiển tài hoa phong nhã ở kinh đô.

GS Trần Văn Khê cho rằng ca nhạc Huế gần gũi với loại cung trung nhạc ở triều đình, nhất là ở cách sử dụng loại đàn nguyệt, một cây đàn mà ca Huế thường dùng... "Trong các loại nhạc triều đình, có loại cung trung nhạc là gần gũi với đàn Huế nhất"(5).

Theo Phạm Đình Hổ thì từ đời Cảnh Hưng nhà Lê (1740) có ông quan nội điện Cung phụng quản tiên hữu đội tên là Nguyễn Đình Dịch học nhạc Trung Hoa mà biến đổi ra theo tiếng Nam, nghe cũng hay. Nhưng tiếng trong tiếng đục lẫn lộn nhau lại chưa có xoang điệu tiết tấu gì cả. ''Ông Vũ Chỉ Đồng người làng An Thái cũng thích chơi đàn nguyệt trước học điệu Tàu biết đủ các cung bậc rồi gảy ra tiếng ta và xen theo các bài đàn đáy, đàn nguyệt, tiếng rắn, tiếng mềm, dịu dàng hợp nhau, bụng nghĩ thế nào là gảy được thế ấy"(6).

Vậy, có thể nói ca Huế gần gũi với loại nhạc cung đình chứ không thể kết luận ca Huế là nhạc cung đình. Một câu hỏi cũng cần lý giải, ca Huế không phải là nhạc cung đình. Vậy phải chăng nó là nhạc dân gian ?

Nhạc dân gian chủ yếu là nhạc hát, là dân ca. Các điệu hò, các bài lý, vè phổ biến trong dân gian từ lâu là nhạc dân gian đã có mặt trong đời sống dân tộc.

Ca nhạc Huế gồm cả nhạc hát lẫn nhạc đàn cố định trong một hệ thống bài bản phức tạp, với nhiều nhạc khí nhiều kỹ thuật đàn và hát điêu luyện khác xa với nhạc dân gian vốn đơn giản, và không cần sự phối hợp của nhạc khí. Tác giả của ca Huế vốn có, sau này không ai biết là trường hợp khuyết danh tác giả của các câu hò hát dân gian là vô danh. Vô danh là thuộc tính cơ bản của các tác phẩm văn học dân gian.

Ca nhạc Huế ngày trước không dính dáng đến sinh hoạt lao động của nhân dân mà chỉ là một thú tiêu khiển của tầng lớp thống trị hoặc quan quyền, trí thức phong lưu. Sở dĩ, sau này những nghệ sĩ đàn ca trong ca Huế, phần lớn là từ trong nhân dân mà ra, bắt chước thú tiêu khiển của vua chúa, quan quyền, tập hợp lại thành những nhóm để đàn ca xướng hát, làm cho người đời tưởng rằng ca Huế là nhạc dân gian; đó là một điều sai lầm, nếu chúng ta không xét đến sự hình thành của ca Huế.

Như vậy, có cơ sở để khẳng định ca Huế không phải là nhạc dân gian.

Ca nhạc Huế có phải là nhạc thính phòng không ? Đây là câu hỏi phải cẩn trọng để trả lời cho thật chính xác.

Nếu định nghĩa nhạc thính phòng là loại nhạc viết cho một số ít nhạc khí, một số ít ca công và chỉ dành để biểu diễn cho một số người nghe hạn chế trong một căn phòng thì ca Huế nặng về tính chất thính phòng, tính chất tiêu khiển trong những lúc trà dư tửu hậu.

Nhưng có trường hợp một số bài ca Huế tham gia vào phường bát âm, trình diễn trong các đám rước, các cuộc tế lễ. Một số bài ca Huế lại có mặt trong các dịp sinh hoạt công cộng của triều đình nhà Nguyễn trước Cách mạng tháng Tám với mười bài Ngự. Như thế có thể nói ca Huế không đơn thuần và nhất thiết là nhạc thính phòng.

Từ một số nhận xét trên, có thể nhận định : Do tính chất và đặc điểm của nó, ca nhạc Huế thuộc loại nhạc cổ điển do nhân dân sáng tạo ra. Tính cổ điển của ca nhạc là ở chỗ :

1. Nó có những hệ thống bài bản điêu luyện, hoàn chỉnh và mẫu mực, có cấu trúc rất chặt chẽ, nghiêm ngặt và tính khoa học cao. Ví dụ mỗi bài bản ca nhạc Huế thường được chia thành nhiều đoạn hay sáp, có khi sáp dưới lập lại giống sáp trên, hoặc biến thể đi ít nhiều, chẳng khác chi các hình thức đoạn đổi (couplets), đoạn điệp (refrains), chủ đề và biên tấu (thèmes ét variations) trong nhạc cổ điển phương Tây.

Một bài bản ca nhạc Huế, do những cách tấu nhạc và cách ca khác nhau, có thể sinh ra nhiều dị bản : như phú lục đường, phú lục chậm, phú lục nhanh, nam bình thường, nam bình dựng, nam ai cổ, nam ai nay, cổ bản thường, cổ bản xuân, cổ bản dựng, cổ bản xắp

2. Ca nhạc Huế có hai điệu chính là những điệu nam và những điệu bắc (còn gọi là điệu khách), những điệu này lại gồm nhiều hơi (có khi còn gọi là giọng). Cái hơi đó, theo cách gọi của các nghệ nhân, gồm có : Hơi ai (bài Nam ai : điệu Nam hơi ai), Hơi oán (bài hành vân : điệu Nam hơi oán, bài tứ đại oán, bài chinh phụ....), Hơi xuân bài Nam xuân : điệu Nam hơi xuân), Hơi dựng (bài Nam bình dựng, bài cổ bản dựng), Hơi quảng (ví dụ những bài bản bị ảnh hưởng ít nhiều bởi âm nhạc miền Nam Trung Quốc), Hơi đảo (những bài điệu Bắc với nhiều đoạn chuyển hệ) có người gọi hơi đảo là nhịp đảo, Hơi nhạc (những bài bản mang phong cách trang trọng như bài Phú lục), Hơi thiền (những bài bản chịu nhiều ảnh hưởng các bài bản tán và tụng trong âm nhạc Phật giáo). Mỗi hơi nhạc đó nói lên một sắc thái tình cảm, một trạng thái tâm hồn, một phong cách, một nhạc cảnh khác nhau.

3. Trong ca nhạc Huế có nhiều loại nhịp như : nhịp chính diện, nhịp nội, nhịp ngoại, nhịp chói; nhiều chỗ đảo phách (syncopes) - chuyển nhịp, chuyển điệu, chuyển hệ (métaboles).

4. Trong ca nhạc Huế có nhiều loại nhịp độ (mouvements) khác nhau như : hoãn điệu (lento); bình điệu (moderato); ấp điệu (presto).

5. Trong ca nhạc Huế có nhiều loại nhạc khí có thể hoà tấu với nhau như đàn nguyệt, đàn nhị, đàn tỳ bà, đàn tranh, đàn tam, đàn bầu, sáo, sênh, sênh tiền. Thường thường các nhạc khí sau đây được hoà tấu với nhau :

- Đàn tranh, đàn nhị, đàn nguyệt (tam tấu)

- Đàn tranh và tỳ bà, hoặc đàn tranh và đàn nguyệt, hoặc đàn tranh và đàn nhị (song tấu)

- Đàn tranh, đàn nhị, đàn nguyệt, đàn tỳ bà và đàn tam (ngũ tuyệt).

- Ngũ tuyệt cộng thêm với đàn bầu, và sênh tiền; thêm một nhạc công hay một ca công gõ sênh.

6. Trong ca nhạc Huế có nhiều cách lên dây đàn : dây bắc, dây nam, dây oán, dây thuận, dây nghịch, dây chẩn, dây thiệt, dây nguyệt điều dây hò nhứt, dây hò nhì, dây hò ba, dây hò tư... Đánh bài bản điệu Bắc, phải lên dây bắc, đánh bài bản điệu Nam phải lên dây Nam, đánh bài bản hơi oán phải lên dây oán, mỗi cách lên dây cho một hệ thống nốt riêng.

7. Trong ca nhạc Huế có nhiều kỹ thuật đàn điêu luyện như : nhấn, vuốt, rung v.v...

Nói tóm lại đây là một loại nhạc cổ điển điêu luyện, tinh vi và phức tạp.

Ca nhạc Huế là một loại nhạc cổ điển do nhân dân sáng tạo ra vì nó phản ánh nguyện vọng, ước mơ, tư tưởng và tình cảm của nhân dân dưới chế độ phong kiến. Tuy trong quá trình hình thành và sáng tạo, ca Huế là loại ca nhạc cổ điển, nhưng tuyệt đại bộ phận nội dung ca Huế thắm đượm chất trữ tình, một loại tình cảm đậm đà, tha thiết. Dưới mọi đề tài ca Huế có khả năng diễn đạt tình cảm con người cố đô một cách trung thực và sắc nét. Các nghệ sĩ đặt lời ca Huế thuở trước thường mượn khung cảnh thiên nhiên để gởi gắm tâm tình, lấy ngoại cảnh để diễn đạt nội tâm.

Trong số các ca sỹ, nhạc công, còn để lại tên tuổi từ thế kỷ trước đến thế kỷ sau, chúng ta thấy đại đa số là những nghệ sĩ, nghệ nhân sinh trưởng ngoài dân gian. Cũng có một số ông hoàng, bà chúa, các vương công có mặt trong đám người này, họ là những người thấy thích hợp với nghệ thuật ca Huế, đủ điều kiện và năng lực để sáng tạo và trình diễn ca Huế, hoặc là các nghệ nhân dân gian, đã tự lựa chọn nghề đàn ca xướng hát để sinh sống, một số không may bị tập trung, trưng tập vào các đội ngự nhạc ở trong cung điện nhà Nguyễn theo các quyết định của vua Nguyễn.

Nội dung cũng như sinh hoạt ca Huế gần gũi với nhân dân hơn là giai cấp thống trị phong kiến triều Nguyễn. Một gian phòng, một góc vườn nhỏ, trong một khoang đò trên dòng Hương Giang, vài ba người ca đàn và thưởng thức là đủ cho một buổi ca Huế. Vì thế ca Huế từ sinh hoạt ở chốn cung đình đã dần ra ngoài dân gian, trở thành dân gian hoá. Rõ ràng ca nhạc Huế không thuộc về nền văn hoá chính thống của giai cấp thống trị mà thuộc về nền văn hoá mang tính chất dân chủ và nhân đạo của nhân dân.

Về xuất xứ trực tiếp của ca nhạc Huế, có thể thấy nó là một loại âm nhạc mang nhiều màu sắc địa phương. Nhạc điệu và nhất là giọng ca Huế rõ ràng là phát sinh từ tiếng nói, giọng nói của người vùng Huế. Không thể ca Huế với giọng Bắc, giọng Nghệ, giọng Quảng, hay giọng Nam Bộ, mà nhất thiết phải với giọng Huế của người Huế - Trị Thiên.

Vậy tên gọi của nó đã nói lên rằng quê hương của ca nhạc Huế chính là xứ Huế, tức là vùng Thuận Hoá cũ, vùng kinh đô của Phú Xuân ngày trước. Sau này, vì cùng trong một vùng phát âm, người Quảng Trị cũng có nhiều đóng góp cho sự phát triển của ca Huế, nâng cao ca Huế trở thành một nghệ thuật mang tính địa phương sâu sắc, đóng góp vào vườn hoa nghệ thuật đầy sắc màu rực rỡ của dân tộc.
10/07/2011 Đăng bởi meocon ngok
Bạn cũng có thể quan tâm
minh o hue,la sinh vien moi ra truong.o hue minh co nha tuyen dung nao ko cac ban
Ban nao o hue cho minh biet dia chi mua ban skateboard o trong TP.Hue nha
co nen tjn tuog boy hue ko????????
Tim` noi hoc vo~ o hue?
o thanh pho HUE co trung tam cap chung chi tam ly khong? giup em voi
Đăng nhập
Xem Giải Đáp ở: Di động | Cổ điển
©2014 Google - Chính sách bảo mật - Trợ giúp