Trang chủ > Câu hỏi
Câu hỏi
Chứng thực khác công chứng thế nào?
Tài chính | Kinh tế 01/04/2010 Đăng bởi Search User
Câu trả lời
1 trong số 2
. Khái niệm Công chứng và Chứng thực
- Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.


- Chứng thựcbản sao từ bản chính là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền (sẽ làm rõ ở phần sau) căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính.


+ Bản chính là bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp lần đầu tiên có giá trị pháp lý để sử dụng, là cơ sở để đối chiếu và chứng thực bản sao.


+ Bản sao là bản chụp, bản in, bản đánh máy, bản đánh máy vi tính hoặc bản viết tay có nội dung đầy đủ, chính xác như sổ gốc hoặc bản chính.


+ Sổ gốc là sổ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp bản chính lập ra khi thực hiện việc cấp bản chính, trong đó có ghi đầy đủ những nội dung như bản chính mà cơ quan, tổ chức đó đã cấp.


- Chứng thực chữ ký là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực


II. Thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký

1. Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là Phòng Tư pháp cấp huyện) có thẩm quyền và trách nhiệm:

a) Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài;


b) Chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài; chứng thực chữ ký trong các giầy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài;


Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện thực hiện chứng thực các việc theo quy định tại khoản 1 Điều này và đóng dấu của Phòng Tư pháp.


2. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) có thẩm quyền và trách nhiệm:


a) Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt;


b) Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt.


Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chứng thực các việc theo quy định tại khoản 2 Điều này và đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã.


III. Thẩm quyền Phòng Công chứng, Văn phòng Công chứng

1. Công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền công chứng các hợp đồng, giao dịch về bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.


- Các hợp đồng giao dịch về bất động sản như:


a) Hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi


b) Hợp đồng thuê mượn


c) Hợp đồng tặng cho


d) Hợp đồng thế chấp


2. Công chứng hợp đồng mua bán, thuê mượn, tặng cho xe ô tô và các loại tài sản khác;


3. Công chứng hợp đồng bảo lãnh, cầm cố, thế chấp;


4. Công chứng các loại giao dịch, hợp đồng hợp pháp theo yêu cầu ;


5. Công chứng Hợp đồng thương mại, Hợp đồng uỷ quyền;


6. Công chứng di chúc;


7. Công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản;


8. Công chứng văn bản khai nhận di sản;


9. Nhận lưu giữ di chúc;


10. Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch


-  Việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thoả thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó và phải được công chứng.


-  Người thực hiện việc công chứng sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch phải là công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động hoặc giải thể thì công chứng viên thuộc tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch.


- Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch được thực hiện theo thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch quy định tại Chương IV của Luật Công chứng.
19/04/2010 Đăng bởi QA.quangvinh
2 trong số 2
Sự khác nhau giữa công chứng và chứng thực
Nhiều người dân gọi tới tổng đài tư vấn PL của công ty Luật Đại Việt, họ không phân biệt được giữa công chứng và chứng thực. Luật Đại Việt xin tư vấn giải đáp một số thắc mắc sau:-Tên gọi và tiêu chí thực hiện có gì khac nhau?- Khi nào thì goi là chứng thực, khi nào thì gọi là công chứng?- Phòng Tư pháp cấp huyện ký các loại giấy tờ hành chính của công dân theo ủy quyền của UBND cấp huyện thì gọi là công chứng hay chứng thực?  
- Theo quy định của pháp luật hiện hành:
Điều 2 Nghị định 75/2000/ND-CP ngày 8/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực, quy định:
1. Công chứng là việc Phòng Công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này.
2. Chứng thực là việc ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này.
Như vậy, về cơ bản Nghị định số 75/2000/ND-CP của Chính phủ đã có phân biệt tương đối rõ ràng hai hoạt động công chứng và chứng thực. Phòng Tư pháp cấp huyện ký các loại giấy tờ hành chính của công dân theo ủy quyền của ủy ban nhân dân cấp huyện thì gọi là chứng thực.
- Theo thực tiễn khoa học pháp lý:
Công chứng và chứng thực là hai hoạt động khác nhau về tính chất và đối tượng.
Công chứng là hoạt động mang tính chất dịch vụ công. Đối tượng của hoạt động công chứng là các hợp đồng, giao dịch về dân sự, kinh tế, thương mại… Hoạt động công chứng bao gồm một chuỗi các hành vi phức tạp từ việc công chứng viên tiếp cận ý chí của các bên giao kết hợp đồng, giao dịch đến việc xác định năng lực hành vi dân sự, sự tự nguyện của các bên giao kết, xem xét tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch.
Trong khi đó, hoạt động chứng thực là hành vi mang tính chất hành chính của cơ quan công quyền. Đối tượng của hoạt động chứng thực là các giấy tờ, tài liệu, chữ ký của cá nhân trên các giấy tờ… Ví dụ: chứng thực sao y giấy tờ, văn bằng, chứng chỉ…
Theo thông lệ quốc tế, các vấn đề công chứng được quy định trong luật dân sự, tố tụng dân sự. Pháp luật về công chứng thuộc pháp luật về chứng cứ. Còn vấn đề chứng thực thì được quy định trong luật về hành chính. Ở nước ta, Nghị định số 45/NĐ-CP ngày 27/2/1991 và Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ không quy định cụ thể về chứng thực. Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự mới 2005 của nước ta cũng phân biệt rõ hai hành vi công chứng và chứng thực (công chứng là hành vi của công chứng viên, chứng thực là hành vi của người đại diện cơ quan hành chính công quyền).
Tuy nhiên, trong thực tế những năm qua, do nhận thức của chúng ta về công chứng chưa đầy đủ, còn đơn giản nên đã coi công chứng tương tự như chứng thực. Vì vậy trong một số văn bản quy phạm pháp luật đã có những quy định theo hướng hợp đồng, giao dịch, việc sao y giấy tờ có thể được công chứng hoặc chứng thực. Cách quy định như vậy đã dẫn đến tình trạng không phân biệt rõ chức năng giữa cơ quan hành chính công quyền là uỷ ban nhân dân với tổ chức dịch vụ công (Phòng Công chứng), thậm chí còn coi phòng công chứng như cơ quan hành chính nhà nước. Việc không phân biệt rạch ròi giữa công chứng và chứng thực cộng với tâm sinh lý công chứng của xã hội nên nhiều cơ quan tổ chức trong giao dịch với dân thường đặt ra yêu cầu phải có bản sao giấy tờ đã được công chứng, gây ra hiện tượng quá tải về công chứng bản sao giấy tờ ở các Phòng Công chứng, nhất là vào mùa thi đại học, cao đẳng…
Hiện nay, thực hiện Nghi quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trong đó có nêu rõ là cần phải hoàn thiện chế định công chứng; xác định rõ phạm vi công chứng và chứng thực, từ đó quy định những nguyên tắc tổ chức và hoạt động phù hợp với từng loại hoạt động này. Theo tinh thần đó, Nghị quyết số 49/2005/QH11 của Quốc hội về chương trình xây dựng luật và pháp lệnh của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội đã giao Chính phủ xây dựng dự án Luật Công chứng, hiện Dự án Luật này đang được trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá XI.
Vụ Cải cách hành chính - Bộ Nội vụ.

Để được tư vấn cụ thể liên hệ với chúng tôi:
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẠI VIỆT-VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG ĐẠI VIỆT
Địa chỉ : Số 335 Phố Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tel: (04)37478888 Fax: (04)37473966
Hot-line: 0933.668.166
Tổng đài tư vấn:1088-4-4 / 1088-4-5
Email: info@luatdaiviet.vn
Website:www.luatdaiviet.vn
07/03/2013 Đăng bởi Chưa đặt tên
Bạn cũng có thể quan tâm
Hợp đồng công chứng và hợp đồng không công chứng cái nào hiêu lực hơn?
Cách giao dịch ở các sàn chứng khoán và khi nào thì biết nhập lệnh thành công?
Khi nào cho rằng thị trường chứng khoán thành khoản yêu?
Bình luận câu ''Thị trường chứng khoán Việt Nam nguy hiểm đã qua ,nguy cơ vẫn còn''
Đăng nhập
Xem Giải Đáp ở: Di động | Cổ điển
©2014 Google - Chính sách bảo mật - Trợ giúp