Trang chủ > Câu hỏi
Câu hỏi
Thực trạng dân số hiện nay của Việt Nam như thế nào?
Thông tin | Văn hóa 31/03/2010 Đăng bởi Search User
Câu trả lời
1 trong số 3
Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy Việt Nam là nươc đông dân thứ 3 ASEAN và thứ 13 trên thế giới.
Cụ thể, tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam là 85.789.573 người, tăng 9,47 triệu người so với năm 1999 (với sai số thuần là 0,3%). Tỉ lệ tăng dân số bình quân năm trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm, giảm 0,5%/năm so với 10 năm trước và là ti' lệ tăng thấp nhất trong vòng 50 năm qua.

Kết quả tổng điều tra dân số cũng cho thấy, dân số Nước Việt phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng. Hai vùng Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Cửu Long có tới 43% dân số của cả nước sinh sống. Hai vùng trung du, miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên chỉ có 19% dân số cả nước sinh sống.

Số liệu cũng cho thấy, Đông Nam Bộ là vùng có tỉ lệ tăng dân số cao nhất với 3,2%/năm; Tây Nguyên là vùng có tỉ lệ nhập cư rất cao, do vậy dân số đã tăng nhanh với tỉ lệ bình quân 2,3%/năm.

Tỉ lệ tăng dân số ở khu vực thành thị vẫn ở mức cao. Dân số ở thành thị hiện chiếm 29,6% tổng dân số cả nước, tăng bình quân 3,4%/năm; trong khi tỉ lệ tăng dân số ở khu vực nông thôn chỉ là 0,4%/năm. Đông Nam Bộ là vùng có mức độ độ thị hóa cao nhất với dân số thành thị chiếm 57,1%; tiếp đến là vùng Đồng bằng Sông Hồng có mức độ đô thị hóa tương đối cao với 29,2% dân số sống ở thành thị.

Đặc biệt, với sự kiên trì của công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình, tỉ số giới tính đã dịch chuyển về thế cân bằng hơn và đạt mức 98,1 nam/100 nữ, tăng 1,4 nam/100 nữ so với năm 1999.
07/04/2010 Đăng bởi QA.tocvanghoe
2 trong số 3
Source: http://www.dansotn.com/tin-dan-so/dan-so-viet-nam/417-dan-so-viet-nam-2010-co-hoi-va-thach-thuc.html

Năm 2010 là năm cuối cùng thực hiện Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010, đây cũng là năm bản lề xây dựng Chiến lược giai đoạn 2011-2020.

Tổng số dân của nước ta vào 0 giờ ngày 1-4-2009 là 85.789.573 người, là nước đông dân thứ ba ở Ðông - Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-li-pin) và đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới. Dân số trung bình năm 2009 sẽ là 86,025 triệu người. Sau mười năm dân số nước ta tăng thêm 9,47 triệu người, bình quân mỗi năm tăng 947 nghìn người. Mặc dù vậy, với quy mô dân số lớn, đà tăng dân số vẫn còn cao và duy trì trong vòng nhiều năm nữa, theo dự báo dân số nước ta sắp công bố tới đây, sẽ còn tiếp tục tăng đến giữa thế kỷ 21 (tức vào những năm 2048-2050 dân số nước ta mới ổn định và không tiếp tục tăng) với quy mô dân số hơn 100 triệu người và có thể sẽ thuộc vào nhóm mười nước có dân số lớn nhất thế giới.

Mục tiêu trọng tâm của chương trình DS-KHHGÐ trong suốt thời gian qua là giảm sinh. Mục tiêu này được kiểm chứng qua các chỉ tiêu về tỷ lệ sinh thô, tổng tỷ suất sinh và các chỉ tiêu bổ trợ là tỷ suất chết thô và tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi. Tỷ suất sinh thô, tổng tỷ suất sinh, tỷ suất chết thô và tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi trong Tổng điều tra dân số (TÐTDS) 2009 tương ứng là: 17,6 phần nghìn; 2,0 con/phụ nữ; 6,7 phần nghìn và 16 phần nghìn. Các chỉ tiêu này thay đổi khá lớn so với kết quả TÐTDS 1999 tương ứng là: 19,9 phần nghìn; 2,3 con/phụ nữ; 5,6 phần nghìn và 36,7 phần nghìn. Sau mười năm tỷ suất sinh và tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi đã giảm mạnh; đặc biệt là tổng tỷ suất sinh giảm từ 2,3 con xuống dưới mức sinh thay thế (2,0 con/phụ nữ). Sự giảm mạnh mức sinh và tỷ suất chết của trẻ em dưới một tuổi trong mười năm qua chứng minh sự thành công  của chương trình DS-KHHGÐ và chăm sóc sức khỏe trong suốt thời gian qua. Khác với xu hướng về mức sinh và tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi, tỷ suất chết thô tăng lên, chứng minh xu thế già hóa dân số tăng nhanh trong mười năm qua.

Theo cơ cấu dân số, vấn đề  mà ngành DS-KHHGÐ cần quan tâm là cơ cấu phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đặc biệt là cơ cấu phụ nữ ở các nhóm tuổi hôn nhân và sinh đẻ (20-29 tuổi). Hiện nay tuổi kết hôn trung bình lần đầu là 24,5 tuổi. Từ những năm trước chúng ta đã phải đối mặt với thách thức về nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cao do hiệu ứng của dân số tăng cao của thời gian trước. Qua tháp dân số chúng ta thấy số phụ nữ trong tuổi kết hôn và sinh đẻ sẽ đạt cực đại vào những năm 2015-2025. Do vậy nguy cơ tăng mức sinh trở lại vẫn còn rất lớn. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy, tỷ số giới tính thấp là vùng Ðông Nam Bộ. Ở đây, tỷ lệ tăng dân số hằng năm đã cao hơn rất nhiều, nhưng tỷ số giới tính năm 2009 lại thấp hơn đáng kể so với mức bình quân chung của cả nước. Bởi vì, vùng Ðông Nam Bộ có TP Hồ Chí Minh là thành phố lớn nhất cả nước và chiếm tới 51% tổng số dân của cả vùng, thành phố này luôn có tỷ số giới tính thấp nhất cả nước trong cả bốn cuộc Tổng điều tra dân số vừa qua (90,2 nam/100 nữ vào năm 1979, 88,4 nam/100 nữ vào năm 1989, 92,8 nam/100 nữ vào năm 1999 và 92,7 nam/100 nữ vào năm 2009); bên cạnh đó luồng nhập cư từ các tỉnh khác vào ba tỉnh, thành phố thu hút dân lớn cả nước thuộc vùng Ðông Nam Bộ là TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu luôn có số nữ nhiều hơn nam.

Ðáng chú ý, nước ta đang phải đối mặt với  vấn đề  già hóa dân số với tốc độ ngày càng nhanh. Theo kết quả sơ bộ TÐTDS 2009, tỷ lệ người cao tuổi hơn 9%. Tuổi thọ bình quân chung là 72,8 tuổi. Tuổi thọ bình quân của ViệtNam đang tăng nhanh so sánh giữa hai cuộc TÐTDS 1999 và 2009, tuổi thọ bình quân của nam tăng 3,7 tuổi từ 66,5 tuổi lên 70,2 tuổi. Nữ tăng 5,5 tuổi từ 70,1 tuổi lên 75,6 tuổi. Số cụ hơn 100 tuổi tăng gấp hai lần so với TÐTDS 1999 (khoảng 7.200 cụ). Theo dự báo nước ta bước vào già hóa dân số vào năm 2015, nhưng thực tế hiện nay là ngay từ những năm 2010. Theo phân tích và nhận định của các nhà nhân khẩu học kinh tế trong và ngoài nước, cơ cấu dân số Việt Nam đã bước vào giai đoạn "Cơ cấu dân số vàng" hay " cửa sổ cơ hội dân số" hoặc "dư lợi dân số". Thông thường cơ cấu dân số của một quốc gia sẽ chuyển đổi từ cơ cấu dân số trẻ sang cơ cấu dân số "Dư lợi nhân khẩu học", rồi tiếp đến cơ cấu dân số già. Dân số Việt Nam có sự chuyển đổi đặc biệt tức là vừa bước vào giai đoạn nhiều người trong tuổi lao động nhưng đồng thời cũng già hóa. Chỉ tiêu về chất lượng dân số tuy đạt mục tiêu Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 đề ra, nhưng mức xuất phát điểm còn thấp về cả thể chất, trí tuệ và tinh thần. Mặc dù tuổi thọ bình quân đạt 72,8 tuổi vào năm 2009, song tuổi thọ khỏe mạnh chỉ đạt 66 tuổi và đứng thứ 116/182 nước trên thế giới. Tỷ lệ trẻ sơ sinh bị mắc các bệnh tật di truyền, tỷ lệ chết trẻ em, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em còn ở mức cao; khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trước, trong và sau sinh, chăm sóc trẻ sơ sinh ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế... Trong khi đó, dân số nước ta phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng. Hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có 43% số dân của cả nước sinh sống. Ngược lại, hai vùng trung du và miền núi phía bắc và Tây Nguyên chỉ chiếm dưới một phần năm (gần 19%) số dân của cả nước. Mật độ dân số khác biệt rất lớn giữa các vùng, vùng có mật độ đông dân nhất gấp mười lần vùng có mật độ dân số thấp nhất. Ðây là những thách thức rất lớn không những cho việc phát triển kinh tế - xã hội mà còn rất khó cho việc xây dựng mạng lưới an sinh xã hội.

Tỷ trọng dân số thành thị, nông thôn là một trong những chỉ tiêu quan trong trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Thông thường, để là nước công nghiệp thì tỷ lệ dân số thành thị phải đạt 45% trở lên. Tỷ trọng dân số đô thị của Việt Nam tăng trong giai đoạn vừa qua, nhưng so với mục tiêu trở thành nước công nghiệp thì cũng còn một khoảng cách khá xa. Chỉ mới có vùng Ðông Nam Bộ là đạt tỷ lệ này, số dân thành thị chiếm 57,1% (năm 1999 là 55,1%). Việc phát triển đô thị ngoài việc xây dựng hạ tầng cơ sở, cũng phải kèm theo việc xây dựng mạng lưới an sinh xã hội, lối sống văn hóa đô thị... Ðó cũng là những vấn đề thách thức rất lớn trong chương trình DS-SKSS/KHHGÐ của Việt Nam trong giai đoạn tới.

Từ những cơ hội và thách thức của vấn đề dân số, ngành dân số cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền đối với công tác DS-KHHGÐ và sức khỏe sinh sản; hoàn thiện sớm hệ thống tổ chức bộ máy làm công tác dân số và chăm sóc sức khỏe sinh sản các cấp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý công tác này trên phạm vi cả nước.  Ðẩy mạnh truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi; nâng cao hiệu quả thông tin cho các cấp lãnh đạo; nâng cao hiệu quả của các hoạt động truyền thông; tăng cường giáo dục dân số và sức khỏe sinh sản, giới và bình đẳng giới trong và ngoài nhà trường; đổi mới và nâng cao chất lượng truyền thông giáo dục. Kiện toàn mạng lưới cung cấp dịch vụ dân số và chăm sóc sức khỏe sinh sản; nâng cao chất lượng dịch vụ; hoàn thiện hệ thống hậu cần phương tiện tránh thai và hàng hóa sức khỏe sinh sản; mở rộng cung cấp các dịch vụ tư vấn và kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân, sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh.  Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách dân số và sức khỏe sinh sản nhằm thích ứng với những thay đổi về quy mô, cơ cấu dân số, phân bố dân cư, nâng cao chất lượng dân số. Xã hội hóa, phối hợp liên ngành và mở rộng hợp tác quốc tế.
29/07/2011 Đăng bởi Chưa đặt tên
3 trong số 3
Dân số đang dần đi vào ổn định !
27/08/2011 Đăng bởi Phạm Văn Hải
Bạn cũng có thể quan tâm
Dân số việt nam và số dân việt nam?
Dân số Việt Nam phân bố như thế nào?
Thực Dân Pháp?
Các bạn thực hiện nghĩa vụ công dân như thế nào ?
Tại sao menđen lại chọn các cặp tính trạng tương phản khi thực hiện các phép lai?
Đăng nhập
Xem Giải Đáp ở: Di động | Cổ điển
©2014 Google - Chính sách bảo mật - Trợ giúp