Trang chủ > Câu hỏi
Câu hỏi
Năm 1010 lý thái tổ cho xây cái gì ở kinh đô thăng long?
Giao thông | Thông tin 01/04/2010 Đăng bởi Search User
Câu trả lời
1 trong số 2
Đó là vào thời Lý (217 năm), Trần (171 năm) được đánh giá là một giai đoạn lịch sử phát triển thịnh vượng và bền vững nhất về kinh tế, hùng mạnh về quân sự, đồng thời mang đậm sắc thái riêng của Việt Nam trong phát triển Phật giáo, văn hóa nghệ thuật và y học. Điều đó cũng có nghĩa là việc dời đô từ Hoa Lư về Đại La của vua Lý Công Uẩn đã thể hiện một tầm nhìn vượt thời đại, mở ra một kỷ nguyên mới cho Đại Việt.

Sứ mệnh mở đầu

1000 năm trước, mùa xuân (tháng 2) năm 1010, Lý Công Uẩn - vị vua khai sinh vương triều Lý, có chuyến về thăm quê nhà ở hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp (thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh hiện nay). Không phải ngẫu nhiên mà chuyến đi lịch sử này được thực hiện sau khi ông lên ngôi chỉ vài tháng (Lý Công Uẩn lên ngôi vua ngày 2/11 năm Kỷ Dậu, tức 21/11/1009). Theo GS. TS Nguyễn Quang Ngọc, Chủ tịch hội sử học Hà Nội, trong chuyến đi này vị Vua đã tiến hành khảo sát lại lần cuối địa điểm dự định xây dựng kinh đô mới.

Mùa thu năm Canh Tuất, (khoảng từ 13/8 đến 10/9/1010), Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lư ra kinh phủ ở thành Đại La (Thăng Long sau này). Sử sách đã không ghi chép lại thời điểm chính xác Lý Công Uẩn tự tay thảo Chiếu dời đô, nhưng giới sử học đều tin chắc phải sau chuyến khảo sát thành Đại La, khi đã vững ngôi và đầy đủ thực quyền, Lý Công Uẩn mới có điều kiện thẩm định và thi hành ý muốn của mình.

Thế kỷ X là thế kỷ của những cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ trong việc giành, giữ và khẳng định nền độc lập dân tộc (qua các sự kiện họ Khúc – họ Dương dựng nền tự chủ từ năm 905 đến 937; Ngô Quyền chiến thắng Bạch Đằng năm 938; Lê Hoàn chống Tống lần thứ nhất năm 981...). Dồn dập các sự kiện quân sự và qua mỗi sự kiện đó cho thấy người Việt ngày càng lớn mạnh, nền tự chủ - độc lập ngày càng được khẳng định.

GS Phan Huy Lê (Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam) đã tổng kết: “Các vương triều Ngô, rồi Đinh - Tiền Lê đã có công giành lại và gây dựng nền độc lập, bước đầu xác lập chính quyền Trung ương. Sứ mạng của triều Lý là xây dựng vương quốc giàu mạnh, mở ra kỷ nguyên phát triển văn minh thực sự cho đất nước”.

Tránh cái sai của tiền nhân, học cái hay của đối thủ

Nhìn lại thế kỷ X có thể thấy, Lý Công Uẩn hiểu rất rõ sứ mạng lịch sử của mình. Trước khi nắm đại quyền, ông được các bậc trí thức Phật học uyên thâm nhất thời đó đào tạo cẩn thận, bài bản, cộng với tư chất thiên phú nên tầm nhìn khác với người thường. Sau khi lên ngôi, ông nắm bắt được yêu cầu của thời đại, hiểu rõ trọng trách đặt trên vai: Xây dựng đất nước trên quy mô lớn, đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế, mở mang văn hóa...Với tầm nhìn rộng, ông nhận thấy kinh đô Hoa Lư, với địa thế núi non hiểm trở đã không còn phù hợp nữa. Qua chuyến hồi hương kiểm nghiệm lại thực tế, ông đã vững tay hạ Chiếu dời đô. Các nhà sử học, văn hóa học đã không biết bao lần phân tích, ngẫm suy về Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ, để rồi mỗi lúc lại nhận ra những giá trị mới.

“Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng tự tiện dời đô? Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.

Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.

Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?”.

Vừa trải qua ngàn năm đô hộ, nhưng Lý Thái Tổ đã lấy bài học dời đô từ chính kẻ thù phương Bắc lớn mạnh, cũng như từ sai lầm của nhà hai triều đại tiền nhiệm để làm bài học cho mình. Học cái đúng từ đối thủ, học cái sai từ tiền nhân, để khẳng định dời đô là việc lớn, không thể theo ý riêng, mà phải “làm kế cho con cháu muôn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân”, quả là chuyện không phải ai cũng làm được. (Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng, sau này, các nhà sử học đã “minh oan” cho Đinh Tiên Hoàng khi dựng kinh đô ở Hoa Lư, bởi khi đó chính quyền Trung ương đang phải đối phó với các thế lực cát cứ trong nước và mưu đồ xâm lược của nước ngoài. Đinh Tiên Hoàng về dựng kinh thành ở quê hương, trước hết để chắc chắn lòng người ủng hộ, sau mới là lợi thế địa hình hiểm trở, tiến thoái đều thuận lợi, có thể mở rộng kiểm soát cả vùng đồng bằng. Hoa Lư là kinh đô của thời chiến, của phòng thủ và tiến công quân sự. Đó không phải là sứ mệnh của Lý Thái Tổ).

Với việc dời đô về Đại La thành, GS Phan Huy Lê còn nhận định: “Thành Đại La ở vào vị trí trung tâm của đất nước thời bây giờ, một đầu mối giao thông thủy bộ thuận tiện. Thành nằm ở phía Nam sông Nhị Hà (sông Hồng - PV), giữ vai trò như một con hào tự nhiên ngăn chặn sự tiến công từ phương Bắc xuống. Thêm nữa, qua sông Hồng, sông Đuống để có thể tỏa đi khắp hệ thống sông ngòi châu thổ, lên miền núi rừng phía Bắc, phía Tây Bắc, qua Tạc Khẩu và vùng ven biển vào miền Trung. Đại La - Thăng Long - Hà Nội là một đô thị sông - hồ, các sông Tô Lịch - Kim Ngưu nối với hồ Tây, sông Nhị và hệ thống ao hồ tạo thành một mạng lưới giao thông đường thủy đi khắp vùng. Thành Đại La lại có núi Tản Viên, Tam Đảo án ngữ tạo thành thế đất đế vương theo quan điểm phong thủy”.

Câu văn đắt nhất trong bài Chiếu

GS Lê Văn Lan cũng đồng tình với quan điểm trên và nhấn mạnh tầm nhìn chiến lược quân sự của vị vua khai sinh vương triều Lý. Thành Đại La nằm ở bờ Nam sông Cái (sông Hồng), hướng mặt ra sông Cái. Sông Cái không chỉ là đường giao thông, thủy lợi, mà còn là chiến hào ngăn giặc phương Bắc. Lý Thái Tổ đã không chọn kinh thành Cổ Loa (mà Ngô Quyền đã từng chọn), cũng không trở về quê hương ở Châu Cổ Pháp, bởi cả hai vùng đất ấy đều ở bờ bắc sông Hồng, sẽ mất đi sự che chở của dòng sông Mẹ. Thực tế lịch sử đã chứng minh tầm nhìn ấy của vua Lý Thái Tổ còn đúng đến cả ngàn năm sau...

Dù Lý Thái Tổ nhắc đến thành Đại La là “đô cũ của Cao Vương”, nhưng theo sử sách thì người đầu tiên phát hiện ra vị trí “đắc địa” của khu vực Đại La thành lại chính là Lý Bí (Lý Nam Đế). Sau kháng chiến chống nhà Lương thắng lợi vào năm 542, ông đã đóng đô ở Vạn Xuân (vùng trung tâm Hà Nội ngày nay), dựng thành lũy, dựng chùa Khai Quốc.

GS Phan Huy Lê nhận xét, cống hiến lớn lao của vua Lý Thái Tổ là nhận thức được những tiền đề đó, tự tin ở sức mạnh của đất nước, ở tương lai của dân tộc để đi đến một quyết định thể hiện tầm tư duy chiến lược bao quát, nhìn xa trông rộng, đó là dời đô.

PGS. TS Vũ Văn Quân, giảng viên khoa Lịch sử, Đại học KHXH &NV Hà Nội thì đánh giá, quyết định dời đô về Đại La thể hiện sự trưởng thành về tư duy quản lý đất nước, tư duy cầm quyền dựa trên quan điểm phát triển, lấy phát triển để tạo ra khả năng phòng thủ. “Vị trí ấy, điều kiện tự nhiên và lịch sử ấy tập trung rất nhiều lợi thế để phát triển thành trung tâm chính trị, hành chính, văn hóa số một của đất nước. Nhưng Thăng Long lại cũng có hạn chế lớn, là ở vào nơi rất trống trải giữa vùng đồng bằng, khả năng phòng thủ kém. Chọn Thăng Long làm kinh đô là để phát triển mạnh mẽ đất nước, không phải là sự đánh đổi - hy sinh yếu tố an ninh để phát triển, mà là lấy phát triển để tạo ra khả năng quốc phòng, để đảm bảo an ninh”, PGS Quân nói. Bởi thế, việc quyết định dời đô về thành Đại La còn thể hiện sự chủ động, tự tin, sẵn sàng vượt qua những bất lợi trong phòng thủ để ra “giữa khu vực trời đất”, tính kế cho muôn đời con cháu mai sau của Lý Công Uẩn.

Tuy vậy, dù đã suy tính kỹ, vị minh vương Lý Thái Tổ vẫn không quyết định một cách “độc đoán”. Trước khi đặt bút phê vào Chiếu, người lãnh đạo cao nhất của chế độ quân chủ vẫn hỏi: “Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?”. Như sử cũ ghi lại, bề tôi đều nói: “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo”. Qua đây mới thấy, bài học lấy dân làm gốc thời nào cũng xem trọng.

Sinh thời, cố GS Trần Quốc Vượng đã đánh giá câu cuối của Thiên đô Chiếu là “Câu văn đắt nhất trong bài chiếu. Đó là cái thần của bài chiếu nước Việt, là một bản sắc dân tộc, một bản sắc văn hóa Việt đầu đời Lý”.

Bản Chiếu dời đô ngắn ngủi chỉ hơn 200 chữ, nhưng các hậu duệ của vua Lý Thái Tổ sẽ mãi còn phải ngưỡng vọng suy nghĩ sâu xa, tầm nhìn trác việt của vị vua có công khai sinh kinh thành Thăng Long.

Khánh Linh
14/04/2010 Đăng bởi QA.quangvinh
2 trong số 2
Hoàng đế Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) đã cho xây Tòa chính điện Càn nguyên cùng nhiều cung và điện khác ở Núi Nùng nay là vùng đất thuộc di tích lịch sử Hoàng thành Hà Nội, mà trung tâm nằm kế cận với Quảng trường Ba Đình hiện nay.
Tài liệu lịch sử ghi lại rằng “Lý Công Uẩn lên ngôi vua, sáng lập vương triều Lý (1009 - 1225) tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) ngày 2-11 Kỷ Dậu (21 – 11 - 1009). Tháng 7 mùa thu năm 1010, nhà vua dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là Thăng Long. Ngay trong mùa thu năm đó, nhà Lý đã khẩn trương xây dựng một số cung điện làm nơi ở và làm việc của vua, triều đình và hoàng gia. Trung tâm là điện Càn Nguyên, nơi thiết triều của nhà vua, hai bên có điện Tập Hiền và Giảng Võ, phía sau là điện Long An, Long Thụy làm nơi vua nghỉ. Đến cuối năm 1010, 8 điện 3 cung đã hoàn thành. Những năm sau, một số cung điện và chùa tháp được xây dựng thêm. Một vòng thành bao quanh các cung điện cũng được xây đắp trong năm đầu, gọi là Long Thành hay Phượng Thành. Đó chính là Hoàng Thành theo cách gọi phổ biến về sau này. Thành đắp bằng đất, phía ngoài có hào, mở 4 cửa: Tường Phù ở phía đông, Quảng Phúc ở phía tây, Đại Hưng ở phía nam, Diệu Đức ở phía bắc. Cửa Quảng Phúc mở ra phía chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) và chợ Tây Nhai (chợ Ngọc Hà). Cửa Đại Hưng ở khoảng gần Cửa Nam hiện nay. Cửa Diệu Đức nhìn ra trước sông Tô Lịch, khoảng đường Phan Đình Phùng hiện nay. Trong Long Thành có một khu vực được đặc biệt bảo vệ gọi là Cấm Thành là nơi ở và nghỉ ngơi của vua và hoàng gia. Long Thành và Cấm Thành là trung tâm chính trị của Kinh Thành. Phía ngoài, cùng với một số cung điện và chùa tháp là khu vực cư trú, buôn bán, làm ăn của dân chúng gồm các bến chợ, phố phường và thôn trại nông nghiệp. Một vòng thành bao bọc toàn bộ khu vực này bắt đầu được xây đắp từ năm 1014, gọi là thành Đại La hay La Thành”.
Công trình khai quật khảo cổ học từ tháng 12/2002 đến nay, triển khai trên diện tích rộng hơn 19.000 m2 ở vùng gần Quảng trường Ba Đình Hà Nội hiện tại, đã phát lộ một phức hệ di tích – di vật rất phong phú và đa dạng của thành Đại La (thế kỷ VII - IX) đến thành Thăng Long (thế kỷ Xl -XVIII),… . Trong số này, có cả nền của một trong số các cung điện nói trên (ví dụ nền một cung điện gập ở Hố khai quật A20).
10/07/2011 Đăng bởi meocon ngok
Bạn cũng có thể quan tâm
Từ khi mang tên là thành Thăng Long, thành đã được bao nhiêu đời vua chọn là kinh thành?
1000 năm thăng long Hà Nội diễn ra khi nào?
Cái tên thăng long có từ khi nào và tại sao lại lấy tên này ?
Bạn thích tên Thăng Long hay Hà Nội? tại sao.
Thăng Long Hà Nội ra đời tự khi nào??
Đăng nhập
Xem Giải Đáp ở: Di động | Cổ điển
©2014 Google - Chính sách bảo mật - Trợ giúp